| |
DƯ
LUẬN VỀ 2 TẬP THƠ “Hôm sau” & “và
đột nhiên gió thổi” của MVP
Lê Vũ: Mai Văn Phấn, Hai tập thơ, Hai mảng màu hiện thực Đặng Thân: Mai Văn Phấn & công nghệ cách tân thơ Dương Kiều Minh: Hiện thực giả định và hiện thực tâm tưởng trong hai tập thơ mới của nhà thơ Mai Văn Phấn Nguyễn Hoàng Đức: Mai Văn Phấn, ngòi bút phiêu lưu giữa những biến cố của tâm hồn Hoàng Hữu Các: Và đột nhiên gió thổi Vĩnh Phúc: MAI VĂN PHẤN VỚI “ HÔM SAU” & “ VÀ ĐỘT NHIÊN GIÓ THỔI“ Hoài Khánh: Với Hôm sau, nhà thơ Mai Văn Phấn thêm một lần tự đổi mới thơ mình Nguyễn Thánh Ngã: MƯỜI NGHĨ NGẮN VỀ THƠ MAI VĂN PHẤN (vừa đọc vừa nghĩ) Lê Vũ: “Bài học”& Phong cách Hậu hiện đại Nguyễn Việt Chiến: Mai Văn Phấn với những bài thơ hướng đến một trường-thẩm-mỹ mới Vũ Thị Huyền: Nhà thơ Mai Văn Phấn - “Chữ bầu lên tư tưởng” Văn Chinh: Độc hành Mai Văn Phấn Đặng Văn Sinh: Mai Văn Phấn và khúc biến tấu "Hôm sau" Đào Duy Hiệp: Cấu trúc ngôn ngữ và hình ảnh trong tập thơ VÀ ĐỘT NHIÊN GIÓ THỔI của Mai Văn Phấn Phan Triều Dương: Hôm sau - dù có bao giờ Nguyễn Thánh Ngã : MỘT GIỌT NƯỚC MỘT MẦM CÂY Nguyễn Thanh Tâm : Động hình của tư duy và mĩ cảm trong tập thơ Hôm sau của Mai Văn Phấn
Lê Vũ
Mai Văn Phấn, Hai tập thơ, Hai mảng màu hiện thực
Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, Mai Văn Phấn (MVP) tung ra
liên tiếp hai tập thơ “Hôm sau” & “và đột nhiên gió thổi”
trong quý II & III/ 2009 (NXB Hội Nhà Văn và NXB Văn học).
Bởi lẽ, hai tập thơ, là hai cánh cửa âm dương, sau trước đồng
thời mở vào thế giới thi ca của Thi -sĩ -làm -thơ -trên -bờ
-biển, là hai trong một tâm thế cảm thức của MVP khi biện
bày hiện thực.
Hiện thực, không hề là nguyên mẫu nhưng là một hiện thực
thậm phồn (hyper-reality), những simulacra, với lớp lớp hình
ảnh đa tầng đa phương, phi trung tâm. Đời thường nhặt nhạnh,
những trở trăn, giấc chiêm bao, cả những nếp gấp tư duy đã
được hư cấu hóa toàn phần từ gốc đến ngọn. Hiện thực trong
hai tập “Hôm sau” & “và đột nhiên gió thổi” chen chúc
giữa miêu tả và tra vấn, chiêm nghiệm và dằn vặt, phê phán
và chúc tụng, khắc khoải với mò mẫm kiếm tìm, giữa những xung
năng chết và sống, giữa cú đấm, máu, nước mắt và nụ cười giễu
nhại… Nếu “Hôm sau” nổi lên là những hoang tưởng, hoài nghi,
một "niềm kinh hãi rằng có ai đó đang vẽ kiểu cho cuộc
sống của mình” (Tony Tanner) với nghìn nghìn hỗn độn, phi
lý của hiện thực thì, “và đột nhiên gió thổi” không hề là
một vòng luẩn quẩn (vicious circles) của đời sống mà ngồn
ngộn những tinh khiết sáng trong nhuần nhị với xuân thu, với
em trong veo làm chủ thể sống động, với mây ngày gió thổi
những bông hoa, với nghi lễ của đất rộn ràng mùa màng giai
điệu.
Tập “Hôm sau” gồm 27 mẩu chuyện lặt vặt thường ngày: một
ông khách, những nghệ nhân, anh tôi, ông trưởng thôn, chị
thu tiền điện rồi một Hắn …; bên cạnh là cái lưỡi trên đỉnh
cột, con ong bằng nhựa hay bằng gỗ, con gián ba tháng tuổi,
con quạ của mọi cái chết đều được sắp đặt…đến cái thùng rác
và những tin đồn… Tất cả có mặt như một ngẫu nhiên của hiện
thực không đuợc xếp đặt, ngang bằng và phi trung tâm. 27 chuyện,
một con số biến thiên hằng hà chỉ ra những biến hóa vô thường
của hiện thực tạo ra trùng trùng những cú shock của nhận thức
chứ không phải những cú shock của cái mới (Edit Deak).
Đây là căn nhà, thế giới riêng của MVP, những ngổn ngang
và bất ổn, ảo giác và hoang mang chồng ghép dày đặc:
Nhà mình/Mọi sự đảo lộn/Không nhớ bức chân dung hạ xuống
bao giờ
Đâu rồi chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót?/Bộ ấm chén giả cổ
ai cho?
(Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ)
Những con vật như được chế tác bằng đồ phế thải, hoài nghi
không -hoài -nghi nhưng hoàn toàn không phải là hiện thực
thần kỳ (magic realism):
con mèo tam thể được sinh ra từ mớ giẻ rách?
con cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ lon beer?
chim họa mi hót trong lồng là chiếc ấm vỡ?
con chó giụi đầu vào tay mình là cuộn báo cũ?
đàn kiến đang nhẫn nại tha mồi là đống mạt cưa?
(Không thể tin)
Và khoắt khuya, khi nghe tiếng những nghệ nhân gọi mời, bức
tượng, chiếc quạt, con giống, bóng đèn,… con chữ rùng mình,
những giọt mực tụ lại, bộ quần áo trang nghiêm, tất cả “Quay
theo mái nhà”. Đó là vũ điệu của sinh & tử, của những
va đập đến bát nháo điên rồ. Con cá tắt thở trên đường
gần đến cửa sổ. Lũ chuột nhắt chết đuối bơi qua chảo mỡ. Bột
giặt vừa quay vừa rắc lên hoa quả, dao thớt, bàn thờ. Bát
nước chấm quay cùng bìa đậu phụ. Lọ tương ớt lao đi trong
tư thế lộn ngược trong khi Luồng tử khí cao chừng một mét
sáu dựng đứng trước mặt / Chốc lại cúi gập (Vẫn trấn
tĩnh tiễn khách ra ngõ).
Trên mặt đất hôm nay, khi mà thiên tai dồn dập, virus bệnh
tật tấn công ngày ngày, rồi tệ nạn phân biệt chủng tộc, mất
bình đẳng giới, chênh lệch giàu nghèo… vẫn đóng trụ thì hỗn
độn là một xu thế tất nhiên, trở thành cả một hệ thống lý
thuyết tồn tại với hiệu ứng cánh bướm(1)… Cho nên, MVP không
kể chuyện mà chỉ tạo ra những khả thể về những câu chuyện,
và chúng ta có thể dựa vào những khả thể ấy để tự kể chuyện
theo những cách riêng của mình. Đây là kỹ thuật đa tâm điểm
được nhà thơ vận dụng xuyên suốt tập “Hôm sau”.
Bước chân khỏi nhà, chạm mặt với đời sống, MVP nhìn gần nhìn
xa. Kìa là đám mây vẫn nhởn nhơ bay ngày nắng còn tên
trộm, hắn đã cải trang thành người tử tế (Nghe tin bạn
mất trộm), là đám trẻ con biết quá nhiều về người lớn
nên sớm mắc những căn bệnh tuổi già (Dạy trẻ con),
là những cái mặt Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang/
Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học/ Đạo mạo làm thơ tình
khi đã liệt dương cũng rất điệu đàng khi bước lên bục Đạo
mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp (Bài
học). Và tôi loáng thoáng mơ hồ nụ cười diễu nhại của nhà
thơ sau cặp kính loang trắng nhưng còn đây phải chăng là giọt
lệ cho ngàn năm sau trước.
Đây là đỉnh trời/hay đáy vực sâu/chỉ thấy trên lưng lằn
roi bỏng rát
Mồ hôi du khách trên đá xám/ nở thành hoa phù dung.
(Ghi ở Vạn lý Trường Thành)
Thế đó, với MVP, thơ là cảm xúc cũng là suy tư, là tiếng
khóc trộn trạo tiếng cười, là nỗi đau, mất mát, xót và đắng
. Có thể nào không hoang mang vực ngờ khi mà Lưỡi tôi
bị thắt /treo lên đỉnh cột và khốn nạn hơn, nhận ra mình tồn
tại bởi cánh bướm, biển quảng cáo và thiếu nữ không quen biết/
Họ nói giùm tôi cuống lưỡi vực sâu (Ở những đỉnh cột).
Còn “Hắn” phải chăng là tôi, khi thường xuyên đến trong ý
nghĩ, một hắn – tôi lẩm bẩm Nơi bóng tối ăn thịt bóng tối.
Tất cả là hoàn thiện dù bị vá chằng vá chịt, sơn quét tô vôi
loang đến lổ.
của gương đã lành/ sâu đã nở/ trinh đã mất/ cáp đã đứt/
cống đã thông...
là bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ sinh/
giày dép lạc mốt.../là viên đạn bay đi chạm đích/ những vòng
kinh hồi sinh/ dòng sông gặp biển...
(Hắn)
Thế giới đang nhiễu & loạn, đang biến thái và những bạo
động cưỡng hiếp toàn phần để không ai có thể giữ lại cho mình,
dù là cái riêng nằm trong đũng quần - của quý kia phải liệng
xuống hố phân- mà không phải hoán đổi/ hoán cải nhân phận.
Tôi cúi xuống đón chiếc ách lên vai/ Tôi xù lông và bắt
đầu sủa lớn
Tôi lúc lắc và kêu bíp bíp/ Tôi mài cơ thể mình xuống sàn
nhà.
(Chỉ là giấc mơ) .
Người thành dê chó, trâu bò và nhân thế chỉ còn là chốn của
súc sinh ngự trị không hề là một huyễn tưởng mà là hiện thực
mang nghĩa biểu tượng học (semiology). Con quạ với Tử khí
kéo ngọn bấc tới đỉnh trời cũng là một loại kích vật mang
nhiều ý nghĩa khác nhau, một ngày Thế Tận, cái bóng của Tội
ác & Trừng phạt…?
Bóng đêm chui dần vào bụng quạ.
Cả chúng ta nữa, đang cồn cào cùng dòng sông đói khát. Những
giọt nước đục tìm cách lọt qua khe vải. Mặt nước khổng lồ
ghìm nén xao động, mong giữ lại bóng người. Bật que diêm rồi,
vẫn nhớ ngọn bấc còn rất xa. Vung tay lên, nói to một mình
trong bóng tối.
Con quạ khật khừ xuyên đêm/Thảng thốt kêu
Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại
(Biến tấu con quạ)
MVP mời chúng ta tham gia vào biến tấu quạ để ngẫm ngợi,
một văn bản mở có thể có trăm chiều hướng diễn giải. Đây cũng
chính là thi pháp chủ đạo mang cảm thức hậu hiện đại với cấu
trúc luận (structuralism) & biểu tượng học, cũng là cú
đột phá vượt lên MVP những tháng cũ cùng ngày.
Do đó, tập “Hôm sau” đầy rẫy những ngớ ngẩn, cố chấp kiểu
“Đúng vậy” của một ông già cứ bập bẹ những lời lẽ quấy rồi
đục... nhục rồi than... tan rồi huề... mê rồi tỉnh... thỉnh
rồi buông..., cái điệp khúc cứ da diết cắn cấu vào thanh âm
của chán vạn phi lý nhân sinh.
Đôi khi “Tỉnh táo tột cùng”, nhà thơ nhận ra:
Đừng gượng dậy nói về lòng tin và niềm hy vọng
khi qua khe cửa hẹp/ gió biển đang bắn vào từng mũi tên mát
rượi.
Cũng như khi “Nhìn kỹ” mới hay :
Nắp thùng rác có dòng chữ in sẵn:
“Ở đây không ô nhiễm. Xin bạn yên tâm!”
Tập “Hôm sau” đã thực sự vất bỏ tính quý phái hàn lâm, xóa
nhòa ranh giới giữa văn hóa cấp cao và thấp, tiếp cận người
đọc bằng ngôn ngữ đời thường khi trình bày hiện thực từ cái
thùng rác đến mớ giẻ rách, vỏ lon bia, đến cả chứng liệt dương
và con c. trong túi quần.... Và, đã khép lại với giọng kể
ứ ừ mắc ngang thanh quản rơi vãi giữa lịt mịt bụi khói và
ngụy trá của cuộc ngày, một bức tranh lem luốc lọ mọ đen do
bán cầu não trái tô vẽ, một hiện thực thậm phồn quánh đặc
chất hậu hiện đại với nhọ nhem hoang tưởng hoài nghi sợ hãi
cả giễu nhại, một hiện thực ám âm ám ảnh ám thị. Kết thúc
“Hôm sau” là một giả thiết với những con cá đen và cạm bẫy
chực chờ sắc nhọn ban mai:
Có thể dưới bình minh đen/chất ngất những con cá đen
Gió móc vào ông lưỡi câu có ngạnh.
(Giả thiết cho buổi sáng hôm sau)
Nhưng đó chỉ là giả thiết của tập “Hôm sau”. Trong tập tiếp
theo “và đột nhiên gió thổi”, buổi sáng hôm sau không có những
con cá đen và lưỡi câu có ngạnh vì bình minh là một hồng hà
mặt trời, một bức tranh lộng lẫy hồng tươi do bán cầu não
phải cầm cọ. Thơ đã động chuyển từ cực âm sang dương, từ bóng
tối đi về ánh sáng, từ đêm vào ngày, từ rạn nứt nhân sinh
đến cảnh giới tuyệt vời của thiên nhiên hoa trái mùa màng.
Vẫn là hiện thực thậm phồn ngẫu nhiên đuợc hư cấu, vẫn với
nhịp điệu câu ngắn dài bất ổn nhưng MÀU đã sáng trong trinh
bạch, như thể khát khao bàng hoàng hiện trong tâm tưởng. Nói
như Dương Kiều Minh, Hôm sau là hiện thực giả định trong khi
và đột nhiên gió thổi là hiện thực tâm tưởng.
Này là tiếng em gọi sóng lan xa tan trong diệp lục, này là
chậu nước hiển hiện hình ảnh em, rồi tiếng hát trong vòm cây,
cánh chuồn chuồn rẽo đất, những ong và bướm cơn mưa trong
ngần, bông hoa mùa thu, cả vầng ngực em dâng đầy như biển
khi em cho con bú.
Từng âm vận, hình ảnh trong tập “và đột nhiên gió thổi” đều
mềm như lụa, thơm thơm hương đất ngọn cỏ nhưng lại đặc biệt
khác với thơ trữ tình cổ điển ở cách nhìn, những phân vân
hỏi mình hỏi người, nỗi băn khoăn của không ngừng lựa chọn.
Thét lớn đến chết
Im lặng đến chết mà tái sinh thế giới
(Những bông hoa mùa thu)
Câu thơ đầy ý vị thiền và mơ màng ta tưởng cùng một màu với
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư nhưng không, tiếng thét
ở đây chỉ là một hình thái (form), một loại kích vật mở ra
nhiều trường đoạn nghĩa tùy theo cảm nhận người đọc, không
hề là tiếng thét giữa hư không để lạnh đất trời của Không
Lộ thiền sư(2). Tiểu tự sự (small narratives) và đại tự sự
(grand narratives) cũng khoanh một vòng tròn ở đây.
Tiếng nói bên kia đầu dây điện thoại hay khuôn mặt em trong
chậu nước rồi “Bài ca buổi sớm” bàn tay em gieo trồng trên
ngực chưa bao giờ là sự thật tuyệt đối. Vẫn còn đó những khoảng
lặng mơ hồ của hoài nghi trong khoảnh khắc “Nhắm mắt”.
Khi nhắm mắt chợt thấy thế giới không còn ô nhiễm. Những
khoảng không thanh sạch quanh ta lan tỏa, đan cài. Thấy mình
thuở nhỏ giữa lòng nhà thờ cầm cây nến sáng. Ánh sáng ngọn
nến đang tràn vào hốc mắt, vào trũng đất sâu bất động giữa
vòm cây bí ẩn mướt xanh.
Đó là tâm tưởng định hình một loáng chớp mắt nhắm; mở mắt
vẫn là thực tế trần truồng phũ phàng với bán mua diêm dúa,
với gạt lừa bệnh hoạn. Tâm thần vẫn tâm thần, bông hoa là
dị ảnh, những cặp mắt cá lồi khi thế giới loạn thị nên ánh
sáng, một hiện tượng phi bản chất, rồi cũng rách toang hoác:
Ánh sáng đã rách. Nếu một sớm. Thật phản cảm khi thấy
nhau giống những con cá mắt lồi. Em hắt về anh nhiều dị ảnh
bông hoa. Dễ loạn trí nếu phải sống trong một thế giới loạn
thị. Không, ta vẫn còn giọng nói. Mỗi âm tiết lúc ấy hiện
lên một sự thật. Sự thật hiển nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ
thông. (anhanhemem)
Dù cố nhắm măt xua gạt đi, vẫn phải chấp nhận Sự thật hiển
nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ thông. MVP thực sự đã bước vào
vùng sáng của tâm thức roi rói tươi xanh trong từng vần, điệu,
hình ảnh nhưng ngày ánh sáng cũng chỉ là ảo ảnh của thị giác,
mặt trời thức ngủ là do lăng kính mắt nhìn. Không thể có sự
thật vĩnh hằng, chỉ là những mảnh ghép tình cờ trên một vùng
ngực rộng mở Thành quả chuông run lên trong mưa/Gặp đèn
trời, khói bay, gió lạnh/Hay vô ý chạm vào một lá cỏ/ Bất
kỳ... (Khai bút cùng cỏ).
Và phải chăng khi giọt mưa về muôn vật muôn loài sẽ tinh
khiết, an nhiên tự tại và ổn cố? Những hạt mưa rơi xuống.
Em nhắc chúng ta từng là giọt nước. Trong lành em rơi xuống
anh. Để anh biết thiên nhiên và đồ vật quanh mình đều bằng
nước. Tất cả là em đợi anh đến gần. Tờ lịch đang tự mở sang
ngày mới. Nền nhà, khung ảnh, bàn ghế luôn sạch sẽ. Trà thơm
vừa rót. Bát đũa đã sấy khô. Con dao cái kéo bỗng nhiên lại
sắc. Sách vở gọn gàng. Và chốt cửa tự bật mở khi anh bước
ra. (Mưa trong đất)
Câu hỏi treo lên tùy tâm mà mở. Cho nên, “và đột nhiên gió
thổi”, dù thấm đẫm chất trữ tình nhưng ám ảnh loạn tâm và
những bấp bênh đời vẫn là sợi chỉ xuyên ngang đan dọc khiến
tập thơ phân biệt với lối thơ trữ tình tự sự thuần túy. Đây
chính là bước nhảy vọt của MVP trong nhận thức thế giới, là
cái nền trên đó thi sĩ xây ngôi nhà thơ của mình với phong
cách riêng, phong cách MVP.
Mặc kệ tất cả, thế giới vẫn không ngừng biến động với tốc
độ chóng mặt, hoán chuyển hoán vị mọi giá trị ; và MVP cũng
mặc kệ cô đơn, mặc kệ tan hợp, mặc kệ âm u hay huy hoàng,
tiếp tục để mình rơi xuống vũng em với những môi hôn.
Cả nỗi cô đơn cây kèn vừa ngân/ Tiếng lóng lánh nấp
trong chiếc kim tuột chỉ/ Khẽ nhắm mắt, khẽ ngậm vào tóc em/
Đang chết đi và đang sinh sản
Dù có lả đi thành âm u bóng tối/ Lại thấy huy hoàng chạm những
môi hôn.
(Anh đã rơi)
Ngoài kia gió thổi, và ta thấy Con ong vẫn nhởn nhơ bay /thác
đổ đều đều, mưa rơi rất chậm/ nhưng tất cả ngọn cây đều bạt
về một phía. Con ong rồi ngọn thác, đến giọt mưa, cả hàng
cây đều quy hàng về một Phía, phía của một biểu tượng, ở đây
phải chăng là con sam cái khổng lồ bao trùm mặt đất mà anh
cõng suốt trên lưng?
Cho nên, không có gì để ngờ, “và đột nhiên gió thổi” là một
tập thơ tình vì nguồn cội cứu rỗi, mảnh phao bám víu giữa
hoang mang trần thế chính là Em & tình yêu Em.
Vừa chạm vào bờ ánh sáng/ Anh quỳ xuống
Em hiện thân trong chiếc áo thiên thần/ Lấy một ít nước
gọi lên máu và sữa cỏ/ Em dịu dàng rửa tội cho anh.
(Nghi lễ cuối cùng)
Jean Baptiste đã rửa cho Jesus bằng nước của dòng sông Jordan(3);
người Ấn Độ tắm mình trong Sông Hằng, còn MVP chấp nhận nghi
lễ rửa tội từ bàn tay và trái tim em. Rồi chúng ta hợp lại
thành mưa nắng mùa màng, tái sinh đất đai, tái sinh thế giới
bằng chính nụ yêu thương mật ngọt:
Em và anh tụ thành nước mát
mưa xuống những nụ hôn làm lại thế gian.
(Những bông hoa mùa thu)
Sức mạnh cũng dựng lên từ đó, tình yêu: Em gối lên anh kè
đá chắn sóng làm hàng cây ngăn giông bão đi qua và rồi em
bảo: “mình vừa tái sinh dưới đám mây bay”. 27 đoản khúc của
trường ca Những bông hoa mùa thu đã thực sự hát lên lời tình,
những thống thiết yêu thương băng băng dặm ngàn trần thế,
đi qua vực thẳm núi đồi mưa gió đời để tụ hội hân hoan. Hình
ở đây đã xanh, vần ở đây đã tròn, tiết tấu cũng theo đó ăm
ắp dịu dàng và ngôn ngữ thì hoàn toàn không dung tục. Từng
trang từng trang thơ, MVP như mở ra từng nhen nhúm hy vọng,
gieo trồng từng hạt giống niềm tin, giã từ bóng tối buớc vào
rực rỡ hương hoa ánh sáng:
Ta rực rỡ trong vỏ bọc đêm tối. Hòa quyện đường vân thớ
gỗ, rổ rá đan bện, ánh sáng gặp nhau nơi sợi tóc bóng đèn...
Ta khai mở, tôn vinh nhau. Thành ngọn nến, nước sạch. Thành
hoa tươi, hương thơm tế lễ tổ tông. Sông cuộn chảy cứu cánh
rừng đang cháy. Lưỡi dao sắc cắt vào quả ngọt. Tảng đá vụn
rời tự bay theo gió thổi. Nghe sữa đọng trong từng cọng cỏ,
mắt thú dữ phát quang bóng tối, những giọt đắng chảy về túi
mật, và tro than vùi xuống luống cày. Ta xoải mình trở thành
người khác, làm hạt giống giã từ sân kho, bồ hóng gác bếp,
giã từ thúng mủng, chum vò... lăn xuống đất đai.
(Mưa trong đất)
Dù thái độ mỹ học của MVP trong toàn bộ “và đột nhiên gió
thổi” nghiêng về chủ nghĩa hậu hiện đại với gai góc của một
cái nhìn đau đáu thế sự mùa màng kiểu như: và mẩu thức
ăn để dành giấu nơi ký ức/ Sự thật làm con chữ nhảy ra không
thể thu về/ càng tự tin tỉnh dậy nhìn biểu tượng ngập trong
miệng lửa (Nơi trời rộng) nhưng cuối cùng và đột nhiên
gió thổi, với nhân vật em làm trung tâm, chính là tập thơ
trữ tình, và chất hậu hiện đại ít nhiều đã bị giảm trừ (xét
trên mặt cấu trúc luận, ngữ ngôn và tính đối kháng).
Trả lời phóng vấn, MVP đã thú nhận : Nghệ sĩ là người liên
tục vượt qua những cuộc "vong thân" để hoàn thiện
mình. Bỏ lại những tập thơ sau lưng với một khoảng thời gian
dằng dặc dài, MVP kiến trúc mình trong lặng im, lặng im của
tâm thức, của cảnh giới và trí huệ để rồi từng bước giậm chân
vào "nền văn chương của sự phong dật" (the literature
of replenishment), thực sự vất bỏ những xếp nếp tư duy cũ
trong hai tập thơ mới. Trong đó, “Hôm sau” là cánh cửa khép
lại bên trong với hiện thực chủ quan đen nhẻm, không cấu trúc,
phi trung tâm, xóa nhoà biên giới nhị phân của văn hóa cao
và văn hóa thấp, văn hóa bình dân và văn hóa trí thức nên
thực sự là một tập thơ hậu hiện đại thuần túy; đối lại “và
đột nhiên gió thổi” là cánh cửa mở ra bên ngoài với một bến
tình, với thiên nhiên mùa màng mà em là trung tâm nên là một
tập trữ tình dù cảm thức hậu hiện đại vẫn mang mang đâu đó
với ít nhiều giằng xé da diết.
Với hai tập thơ, hai mảng màu hiện thực đối đãi, MVP đã bắt
kịp nhịp chuyển động từ trong ra ngoài thế giới đa chiều đồng
thời tạo dựng cho mình một thi pháp riêng nghiêng về tinh
thần hậu hiện đại .Với tôi, đó là một phong cách hậu hiện
đại gắn liền với cái nền văn hóa Đông Phương, không quá thô
tục và cứng cỏi tráo trợn bát nháo như của một nhóm thơ trẻ/
già trùm mũ hậu hiện đại để văng tục, quăng bừa ra những phân,
đờm dãi, kinh nguyệt máu me nước tiểu với bồn cầu…, một phong
cách không làm người đọc phải ngoảnh mặt đi. Và cũng không
phải là hệ lụy chi đó ( 4 )- như một tác giả nhận định về
những ẩn dụ trong thơ MVP, ngụ ý rằng ẩn dụ trì kéo lối đi
cũ, ngăn trở bước thăng hoa của thơ. Ẩn dụ (hay biểu tượng)
như là hình thái kích vật mời người đọc tham gia đồng sáng
tạo văn bản. Nhà văn tạo ra những khả thể (về ngôn ngữ, sự
kiện, hình ảnh…) và tất cả để cho người đọc tiếp nhận trên
nhiều chiều kích suy tưởng . Đây là ý kiến quan trọng của
R. Barthe trong Le Degré zéro de l'écriture (“Độ không của
tác phẩm”).
Nhìn lại, có thể nói MVP đã âm thầm cày ải cánh đống thơ,
với một nội lực sung mãn, với những trải nghiệm nhân sinh
chín muồi mà “Hôm sau” & “và đột nhiên gió thổi” là một
bằng chứng hùng hồn xác thực thể nghiệm một thi pháp mới,
trong thời đại mới. Hy vọng nhà thơ còn góp mặt nhiều hơn
với những sáng tạo của mình trên nẻo đuờng thơ canh tân.
Cam Ranh 2/10/2009
------------------------------------
Ghi chú:
1 - Hiệu ứng cánh bướm (Butterfly effect) là một cụm từ dùng
để mô tả khái niệm trong lý thuyết hỗn loạn về độ nhạy cảm
của hệ đối với điều kiện gốc (sensitivity on initial conditions).
2 - Nguyên bản bài Ngôn Hoài của Thiền sư Không Lộ:
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Tỏ lòng
(Người dịch: Phan Võ)
Kiểu đất long xà chọn được nơi
Tình quê nào chán suốt ngày vui
Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.
3 - Tân ước của người Thiên Chúa giáo.
4 - Dù rất nỗ lực giải thoát thơ khỏi ẩn dụ, nhưng thế nào
Mai Văn Phấn cũng rơi vào hệ lụy của vô vàn ẩn dụ. Từ ẩn dụ
“Nhà thơ trú trong bóng râm / Những con chữ bị khoét mất
mắt” qua “Đàn quạ lũ lượt chui khỏi ngũ quan, lập
tức sà xuống săn mồi theo bản năng của loài ăn thịt”
đến ẩn dụ về “những con kiến chữ khổng lồ” hay “Cầm
cuốn sách bơi ra phía biển. Cắm con dao xuống đất rồi tưới
nước. Trùm chăn đi vào đám cưới. Một mình trèo lên đồi cao
giơ tay phát biểu ý kiến. Thổi điệu kèn đưa ma con nhện”.
(Inrasara – Mai Văn Phấn, kết thúc cho một khởi đầu)
ĐÃ ĐĂNG:
+ http://damau.org/archives/9393
+ http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=8588
+ http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp? TPID=11152&LOAIID=28&LOAIREF=1&TGID=1345
+ http://doanvinhphuccr.vnweblogs.com/post/12475/189028
+ http://ngoctanns.vnweblogs.com/post/4314/189081
+ http://hoinhavanvietnam.vn/News.Asp?Cat=&SCat=35&Id=1935

Đặng Thân
Mai Văn Phấn & công nghệ cách tân thơ
(Giới thiệu/đọc/nghe/nhìn tập thơ Hôm sau của Mai Văn
Phấn, Nxb Hội Nhà Văn - Hà Nội 2009)
“Người, bến đỗ của thi ca”
- M. Heidegger
Thời đại “hậu công nghiệp” trên toàn thế giới.
“Cả nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa…” trong không khí… hủ hóa toàn diện và
“toàn vẹn lãnh thổ”.
Một thành phố cảng, cửa ngõ Bắc Bộ (hay Bắc Hà).
Tôi đã phải đưa nó vào tiểu thuyết (chưa xuất bản):
Hải Phòng là một nơi đặc sắc của Việt Nam. Vừa là đô thị
vừa là nông thôn; vừa có bản khí của đồng bằng Bắc Bộ vừa
là nơi địa đầu “hải tần phòng thủ”; vừa là nơi có nhiều ngành
nghề vừa là thương cảng quốc tế; vừa trọng văn hóa vừa dung
tục; vừa nồng nàn vừa hung bạo; vừa cam chịu vừa bán giời
không văn tự. Nó tiêu biểu cho khí Việt hơn cả Hà Nội (…),
Sài Gòn (…), Huế (…), Đà Nẵng (…)…
Anh – một stereotype của thời đại, đáng nhẽ.
Đã thu xếp cho mình trở thành một con ốc, một cái
bu-lông to nhớn của cỗ máy công nghiệp nặng.
Đã tự mình chế ra những con robot.
Đã dàn cảnh cho những kịch bản gọn gàng, trôi chẩy
của cuộc đời.
Cứ thế…
Nhưng mà… vẫn còn dư năng lượng.
Mà…
Thế giới nội tâm nó luôn luôn không chịu thỏa hiệp
với guồng máy.
Nó mới chính là NGƯỜI THẬT? Hay nó là QUÁI VẬT?
Khổ nữa, nó lại “hay chữ”.
Và Mai Văn Phấn đã trở thành tác giả của những tập
thơ Giọt nắng (1992), Gọi xanh (1995), Cầu nguyện ban
mai (1997), Nghi lễ nhận tên (1999), trường ca Người cùng
thời (1999), Vách nước (2003)…
Phải chăng có một bài học ở đây: tại sao một bu-lông
hay đinh ốc cũng cần nhiều chữ?
Phải chăng có một SỰ THẬT: con người không là máy
bao giờ hay con người là một siêu máy?
Nhưng con người đã làm ra máy móc ấy. Máy móc ấy
lại cứ quay ra kiểm soát con người. Chả thế mà có
những bộ phim đưa ra viễn tượng một ngày kia máy còn
siêu đẳng hơn cả con người về mọi mặt, rồi làm chủ
cả hành tinh này, bắt loài người làm nô lệ.
Chẳng phải viễn tượng đâu, máy đang đàn áp, cùm xiết
con người đấy thôi.
CON NGƯỜI của tôi đâu?
Anh – một ông chủ của phòng thí nghiệm ngôn từ.
Trước đó, như đã biết, loài người đã tạo ra nhiều
robot. Bọn robot rất đa năng và hữu dụng. Bọn robot
tất nhiên không có nhân tính. Tất nhiên bọn chúng không
cảm xúc. Dĩ nhiên bọn chúng không “tư duy”. Ắt nhiên
bọn chúng không cần LÀM NGƯỜI, một hành vi xa xỉ.
Hẳn nhiên, bọn chúng ngồi xổm lên văn hóa. Tuy nhiên,
chúng đông như kiến. Đã thế, chúng lại còn có những
robot chúa quyền uy áp chúng sinh ra trên mọi góc hành
tinh. Nhưng mà, hình như… chúng cũng có một tố chất
mạnh mẽ: cực tham.
Rất tiếc, cho đến nay, bọn robot khắp nơi khả năng
biểu đạt ngôn ngữ đều kém. Chúng chỉ lầm lũi “ăn”
và “làm”, “làm” và “ăn”… vì chúng là robot.
Xin mở ngoặc, đây không phải là một kịch bản phim.
Anh lẳng lặng triển khai ý đồ nhồi ngôn từ cho robot,
bắt chúng LÀM THƠ cho ra dáng con người.
Quý vị thử bước vào cuộc chơi rất mới bằng việc
đọc bài thơ này:
Cuộc sống, như nước xuân
Khi mùa đông qua đi
Ngày hồng mới rạng
Cùng với con thuyền nhỏ trên biển lớn kia
Chòng chành giữa vịnh cuộc đời
Như hoa sen hướng về ánh nắng mặt trời
Thổ lộ.
Chẳng phải hồ đang dềnh sóng
Mà là giấc mộng của thuyền nhỏ kia
Say rồi
Trái tim của loài người say
Cùng với muôn đóa mây trắng
trôi đến đây
Con thuyền nhỏ của cuộc sống.
Sao? Quý vị thấy thế nào? Đây là bài “Con thuyền
cuộc sống” do một cái máy tính làm ra đó. Có điều
nó nhảm, nhạt, đầy những cliché, déjà vu và sặc mùi
“văn nô”… vì: “thầy nào tớ nấy”, “cha nào con nấy”.
Tất nhiên cái máy ấy không có lỗi gì, như có người
đã nói: “Cái khiến cho thi ca bị sỉ nhục, bị khinh mạn,
không phải là cái máy làm thơ, mà là sự xuống cấp của bản
thân thi ca”.[1]
Những robot-thơ của Mai Văn Phấn, thật lạ kỳ, nhưng,
tất nhiên, hoàn toàn khác.
Phòng thí nghiệm của anh có nhiều robot, toàn những
con tiêu biểu, con nào ra con nấy. Xin được đưa ra đây
6 con robot cùng những tác phẩm của chúng, như thể
cho đủ bộ “lục súc” của thời đại (cũng là tạm chia
ra như thế thôi).
ROBOT “ÔNG CHỦ”
Tên robot này khệnh khạng nhất trong đám robot của
anh. Sau khi nhồi cho hắn cả kho từ điển kiểu Lạc Việt
với cả Eva hắn vẫn kiệm lời. Sản phẩm chữ nghĩa
đầu tiên của hắn đầy lẫn lộn như người nguyên thủy
hay trẻ em, mang vác hơi hướng của cái mà siêu học
giả Pháp Lucien Lévy-Brühl (1857–1939) gọi là “tiền logic”.
Đã thế “đầu óc” nó lại lẫn lộn nửa người nửa ma.
Bài “thơ” khai cuộc của nó có tên “Vẫn trấn tĩnh tiễn
khách ra ngõ”, một cái tên đầy tính “nguyên thủy” vì
nó gợi mở khủng khiếp, như “ngôn ngữ hang động”!
Pha xong ấm trà
Quay ra
Ông khách không còn ở đó
Gọi điện thoại
Người nhà bảo ông mất đã bảy năm
Robot “Ông chủ” đã mở đầu bài thơ như thế. Thơ này
người không thể nghĩ ra. Sau khi đưa ra “mọi sự đảo
lộn” trong ngôi nhà rồi lại còn “ghé sang hàng xóm”
hỏi han giá cả thị trường đầy biến động, quay về,
thì
Trong nhà
Trà vẫn nóng
Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi.
Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng
trước mặt
Chốc lại cúi gập.
Kinh hãi! Không biết là hắn đang tả “khách” hay là
đang tả chính hắn?? Thật là khốn khổ đời loài robot!
Thế giới chúng đang “sống”, đang tồn tại, nào khác
gì những con ma lặng lẽ. Tuy không phải là “vô ngôn
vô lời” mang khí vị minh triết phương Đông mà cũng là
vô ngôn vô lời vậy. Đại nghệ sỹ Anh David Bowie (1947~)
bên trời Tây cũng đã phải thốt lên rằng đó là thế
giới của những “dead man walking”[2].
Chắc không phải ngẫu nhiên mà Mai Văn Phấn để cho robot
“Ông chủ” mở đầu thi tập cực lạ mang hơi thở của thời
đại hậu công nghiệp, thời đại giẫy giụa của chủ nghĩa
tư bản đang ngạo mạn tàn phá trái đất. Chính đương
kim tổng thống Mỹ, chúa trùm của thế giới tư bản,
Barack Obama (1961~), cũng đã nhận ra vấn đề:
Càng ngày càng có thêm bằng chứng cho thấy cách chúng
ta sử dụng năng lượng càng khiến kẻ thù của chúng
ta mạnh thêm trong lúc trái đất càng bị đe dọa thêm.[3]
ROBOT “NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI”
Tên robot này làm thơ “nhăng nhít” nhưng khá “tởn”.
Trong bài “Không thể tin” hắn đưa ra nhận xét “tinh vi”:
Nhưng hình như
mọi con vật trong nhà
vẫn chế tác từ đồ phế thải
Dẫu là máy mà hắn cũng đủ khả năng nhận thức ra
một sự thật xuyên suốt thời đại. Thế là xứng đáng
hơn đứt con người rồi chăng?
Tên này còn làm ra các thi phẩm “dị mọ”: “Quay theo
mái nhà”, “Bài học”, “Dậy trẻ con”, “Hội chứng từ
một tin đồn…” và “Nhìn kỹ”.
Với “Quay theo mái nhà” tên này tiếp tục thực hiện
sứ mệnh “thư ký của thời đại” của thi ca:
Những đồ vật không thể dừng lại. Thùng rác quay
mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện thoại. Chiếc
quần lót mắc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể
hình. Chổi cùn, bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ
lạnh. Con cá tắt thở trên đường gần đến cửa sổ. Lũ
chuột nhắt chết đuối bơi qua chảo mỡ. Bột giặt vừa quay
vừa rắc lên hoa quả, dao thớt, bàn thờ. Bát nước chấm quay
cùng bìa đậu phụ. Lọ tương ớt lao đi trong tư thế lộn ngược.
Và kim giây quay chậm hơn hẳn kim giờ...
Sứ mệnh ấy lại tiếp tục trong “Bài học” với chân
dung “tả chân” một “người-đạo-mạo-đương-thời”:
Đạo mạo giết một con muỗi
Đạo mạo phát biểu chung chung
Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng
Đạo mạo lấy trộm áo mưa
Đạo mạo thở mùi hôi vào miệng người khác
Đạo mạo bọc nhầm một chiếc răng sâu
Đạo mạo tiểu tiện nơi công cộng
Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa
Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp
Đạo mạo xỉ mũi vào cửa kính
Đạo mạo moi tiền của gã ăn mày
Đạo mạo nghe trộm điện thoại
Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang
Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học
Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương
Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác
Đạo mạo đánh tráo bài thi
Đạo mạo tiêu tiền âm phủ
Quá đủ.
“Hội chứng từ một tin đồn…” và nhất là “Nhìn kỹ”
đã hoàn thiện khuôn mặt người-đương-thời.
ROBOT “TAY MƠ”
Tên “dreamer” này đã làm những bài thơ sau: “Chỉ là
giấc mơ”, “Ở những đỉnh cột”, “Giấc mơ vô tận”, “Kể
lại giấc mơ”.
Trong “Chỉ là giấc mơ” hắn mơ những giấc mơ kinh tởm:
Chúng bịt miệng
trấn lột mọi thứ
và xin tôi bộ phận sinh dục.
Nói rằng xin
bởi nếu tôi không đồng ý
của quý kia phải liệng xuống hố phân
(chúng biết cả bí quyết và những câu thần chú).
Một thời đại mà cứ phải sống chung với bọn phù
thủy dã man tràn lan khắp nơi. Thôi cũng đành chăng:
Tôi bảo:
các ông có thể lấy hết
nhưng cho tôi giữ lại chút riêng
xin tự nguyện làm đồ chơi, giẻ lau, trâu chó...
Thảm cảnh “Ở những đỉnh cột” lại càng kinh hãi:
Lưỡi tôi bị thắt
treo lên đỉnh cột
mỗi lần nói
chiếc lưỡi phải co rút
kéo thân thể béo ị lên cao
Tôi giẫy giụa tựa mảnh vải quẫy trong gió mạnh.
Trong “Giấc mơ vô tận”, dù để tặng một con người vừa
mất, nhưng cái sự thảm mới là đệ nhất trần gian:
Gió mùa về
làm khăn trắng cuốn quanh gốc sú
trên đỉnh trời linh cữu nhấp nhô...
Các giấc mơ nơi đây đều hãi hùng. Đến robot cũng “thấm
đẫm hồn thời đại” đến thế kia sao?
ROBOT “VẼ CHÂN DUNG”
Tên robot nghệ sỹ này quả thật có tài. Hắn vẽ được
cả ngoài lẫn trong con-người-ta. Các chân dung gồm:
“Anh tôi”, “Nghe tin bạn bị mất trộm”, “Đúng vậy”, “Hắn”.
Đây là chân dung “Anh tôi”:
Lúc gần đất xa trời, anh nhờ tôi giữ hộ ký ức. Anh dặn
đây là dữ liệu quý. Nhưng kho ký ức tôi đã đầy ứ, cả mốc meo,
thối rữa. Tôi khuyên anh nên vẽ tranh hoặc viết sách. Nhưng
anh đâu phải nhà văn, hoạ sỹ. Tôi nêu nhiều giải pháp khác:
cắt rời, khởi động lại, thu nhỏ, dừng đột ngột, ninh nhừ,
nghiền thành bụi...
Anh nhìn tôi buồn lắm!
Tôi nhìn nước sông thay màu lướt qua bờ cỏ rũ rượi. Phù
sa láng mịn. Trăng mọc sớm, thơ ngây và thoảng mùi rơm rạ.
Nhớ người yêu vô cùng.
Anh nhìn tôi buồn lắm!
Chiếc áo vừa giặt nhàu nhĩ, lặng lẽ bốc hơi tôi đâu có
biết. Rồi những sợi vải mỏng manh lại phẳng phiu dưới bàn
là nóng bỏng. Giặt–là, giặt–là... Đời sống đôi khi giống quả
lắc chiếc đồng hồ quá cũ... Tôi tập nghĩ vẩn vơ để có thể
nghĩ tiếp.
Anh nhìn tôi buồn lắm!
Anh chờ tôi rửa tay. Vòi nước xối mạnh, rất sạch, mát
mẻ vô cùng. Thương anh. Tôi nhìn bọt xà phòng ngầu lên trên
da trơn ướt thật dễ chịu.
Đúng là một siêu phẩm tầm cỡ… robot. Nhưng, bất cứ
con người nào làm thơ chắc cũng mơ viết được một bài
như thế này. Tôi xin được thốt lên: bài thơ đẹp quá.
Cái “đẹp” này thật “hiện đại” và “công nghiệp”… “hóa”
– tinh thần thời đại lại hiển hiện lừng lững bật
lên từ những con chữ. Bài thơ đầy khí vị của đời
sống trần trụi, vụn nát, lạnh lùng, trơ tráo đấy
mà cũng chẳng kém phần “à ơi” với “Anh nhìn tôi buồn
lắm!”
Chân dung “một tên trộm” lại đưa ra một vẻ tài tình
khác, cái chân dung này sắc sảo như sự phân tích của
các thám tử lừng danh đâu đó:
Kìa đám mây hình người vừa lọt vào bầu trời xanh lơ.
Biết đâu tên trộm cũng vào nhà bằng tư thế ấy. Giờ hắn đã
cải trang thành người tử tế, còn đám mây kia vẫn nhởn nhơ
bay.
Chân dung một người đàn ông trong “Đúng vậy” mới thật
là “vừa truyền thống (ca/đồng dao) vừa hiện đại”,
tả rõ ràng đó mà chẳng ai biết đó là ai, chỉ biết
có lẽ đó là nhân vật đại diện cho cả thời cuộc:
Lúc đi
ông mặc áo len màu cổ vịt, quần rộng đũng
tóc cắt ngắn
tay cầm cuốn sách
ra gần cửa còn lẩm bẩm:
sáng rồi tối... thối rồi thơm... bơm rồi xì... đi rồi ngã...
vả rồi thương... ương rồi chín... nín rồi thét... kẹt rồi
lơi... xơi rồi hóc... bóc rồi che... đe rồi chừa... đưa rồi
quỵt... bịt rồi hở... lỡ rồi toi... moi rồi thấy...
chốt cửa gỗ
kéo cửa sắt
ông bấm năm chiếc khóa
rồi ném chìa vào trong nhà...
Lật đống chăn nơi ông vẫn nằm
thấy mẩu giấy với nét chữ nguệch ngoạc:
"Ai tìm thấy tôi ở đâu, gọi về số...
Xin cảm ơn và hậu tạ".
sau mẩu giấy vẫn văng vẳng:
quấy rồi đục... nhục rồi than... tan rồi huề... mê rồi tỉnh...
thỉnh rồi buông...
“Đèn cù” và điên loạn. Chân dung “người anh hùng thời
đại” này được hoàn thiện với bức “Hắn”:
Nơi bóng tối ăn thịt bóng tối
hắn ngồi lẩm bẩm...
... lầm rầm âm thanh tiếp diễn
của bóng tối chưa thành
của bóng tối nuốt dần bóng tối
của màu đen không thể đen hơn.
Hắn là nơi hoàn thiện:
của gương đã lành/ sâu đã nở/ trinh đã mất/ cáp đã đứt/ cống
đã thông...
là bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ
sinh/ giày dép lạc mốt...
là viên đạn bay đi chạm đích/ những vòng kinh hồi sinh/
dòng sông gặp biển...
Lần mò leo tận cây cao
hắn hô:
Ê, chiếu ánh sáng vào đây!
ROBOT “THẾ THÁI”
Tên robot “hủ nho” này đã than thở ra những bài sau:
“Ghi ở Vạn Lý Trường Thành”, “Đêm lập xuân”, “Biết
thì sống”, “Cái miệng bất tử”, “Sống hồn nhiên”.
“Ghi ở Vạn Lý Trường Thành” có vẻ không cần phải
đưa ra cái gì mới với những:
Mây xếp lên vai từng tảng đá nặng
nhoè mắt cát
thở đầy ngực cát
và:
Đây là đỉnh trời
hay đáy vực sâu
chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát
Thế nhưng, quý vị hãy đọc đi sẽ thấy những ý tứ
“thế thái” mới, không đùa.
“Đêm lập xuân” mang cái “thế thái” bàng bạc:
Những chuyện bông lơn
Vô tình vận vào trời đất
Đồ vật tự chuyển dịch
Lắt lay bóng núi
Chim kêu gió thay mùa
Nhưng những chuyện trong “Biết thì sống” thì tưởng
bình dị mà lại độc đáo vô cùng.
“Cái miệng bất tử” thì độc đáo ngay từ “giây phút
đầu tiên”:
Cái miệng đang trôi kia chắc của người đã chết
lúc trên cao
lúc chạm vào mặt đất.
Bộ xương của cái miệng giờ tan vào cát bụi?
vẫn vàng ươm?
hay đã xỉn đen trong chiếc tiểu sành?
Nhưng cái miệng vẫn mấp máy sống động
khi mím chặt
khi nhoẻn cười độ lượng.
“Sống hồn nhiên” thì đã đạt đến thượng thừa của
“ngôn ngữ robot”:
- Vợ tôi bảo muốn chữa bệnh đau đầu
- Vợ lại bảo dù trí tuệ uyên bác
- Vợ chồng thay nhau ngủ
- Muốn thoát ra ngoài phải cắn vỡ tiếng chim
- Tôi pha trà đem dâng cho cây
Tuy khá đồng motif với các tên robot “Người đương thời”
và “Vẽ chân dung” nhưng robot “Thế thái” có một giọng
thơ khác biệt. Những lời thơ thở ra cứ như cát bụi
ngàn năm, như thể thế gian này ngàn năm không đổi, chỉ
có cát bụi dơ dáy là cứ dầy thêm, dầy thêm mãi…
Thèm được thấy một mái tóc dài và dầy…
nhưng tuyệt nhiên không thấy đâu. Bọn robot thời đại
quả thật vô tình.
Tôi mê những mái tóc dầy
Vì tôi luôn muốn sự đủ đầy!
Bọn robot! Sao chúng bay cứ tùy tiện quá đi. Tước
đoạt hết cả. Chúng dẫm nát của ta trái tim. Chúng
chà đạp lên tình yêu. Chúng thiêu đốt đến tàn rụi
mọi cảm xúc của ta. Chúng cưỡng chế ta thành một
loài với chúng. Chúng biến ta thành mớ sắt đồng nát.
Tôi không muốn đến Ô Chợ Dừa[4]
Vì chả ai muốn thành đồ thừa
Thôi chết! Hình như tôi cũng đã bắt đầu làm thơ robot?
Hay là tôi đã thành robot? Hay tên robot nào đã nhập
vào tôi?
ROBOT “CHẬP CHENG”
May thay còn có tên này.
Trong thế giới của những tên tỉnh rụi, bọn chập cheng
là những anh hùng cứu nhân độ thế!
Tên này thật đáng kể! Hắn đẻ ra những bài sau: “Biến
tấu con quạ”, “Còn cậu hãy đứng đằng kia”, “Đến trong
ý nghĩ”, “Tỉnh táo tột cùng”, “Nếu”, “Chuyện còn
dài” và “Giả thiết cho buổi sáng hôm sau”.
“Biến tấu con quạ” cho chúng ta lần đầu tiên cảm nhận
được hơi thở mạnh mẽ của sinh linh trong toàn tập thơ
này.
“Con quạ” đến như một tiên tri, một thiên khải:
Tử khí kéo ngọn bấc tới đỉnh trời
Con quạ rực sáng.
Linh thần thi ca này đã phải chịu “khai sinh” đến tận
4 lần. Đến lần cuối thì nó hiển hiện như một Ngôi
Lời:
Khai sinh
Mực đổ dưới chân và máu
vón cục ở yết hầu, phế quản
Viết một nét lên trang đầu
thấm suốt cả ngàn trang sách.
Tôi ngay lập tức bị quyến rũ bởi sự khai sinh, thiên
khải ấy.
Robot của Mai Văn Phấn đã vụt dậy, ngang với mọi mặt-trời-thơ
với “con quạ” này. Quạ là “ác là”, “kim ô”, là mặt
trời. Điềm trời đã tỏ.
Con-quạ-thơ bừng nổ ngôn từ:
Móc từ hốc mắt
những nhãn quan
Di ảnh là vật chứng
Mổ vào lưỡi
và kéo dài
Phơi dưới trời bài học khẩu ngữ
Bóc từng mảng thịt
Tháo rời tứ chi
Sổ tung lục phủ ngũ tạng
Và cuối cùng, cú “ra đi” mới tuyệt làm sao:
Con quạ khật khừ xuyên đêm
Thảng thốt kêu
Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại
“Không vọng lại”! Dứt được luân hồi là loài tiên thánh.
Thơ cũng vậy!
Những ý thơ “chập cheng” cứ dồn lên như sóng,
trong “Còn cậu hãy đứng đằng kia”:
Có ai bên tai thều thào:
Hãy thức chờ xem rêu phủ bầu trời
Mặt nước ăn những vì sao cuối cùng.
Đêm nay
Rắn rết, bọ cạp tràn vào thành phố
Nhưng đừng sợ!
Nhà nào bây giờ cũng thiết kế kiểu lô cốt
Trời tối không ai ra đường.
trong “Đến trong ý nghĩ”:
Đôi mắt tấm liếp khoét thủng, cánh tay buồm chão, những bàn
chân lá khô cong vênh lê trên mặt đất. Và miệng hắn, sâu hoắm,
mở rộng, vỡ ra từng mảng để nung vôi.
trong “Tỉnh táo tột cùng”:
Ý nghĩ tôi muốn điều khiển con chuột chui ra từ cống hẹp
từ tốn bò vào thùng rác và nằm chết ngay ngắn
Xe chở rác đem những con chuột đi chôn
vĩnh viễn trong thành phố không còn chuột.
cùng những điều “liên thiên” khác trong “Nếu” (cũng
nên ghi chú, bài “Nếu” này tuy cùng tên với một siêu
thi phẩm của Nobel văn học 1907 Rudyard Kipling [1865–1936]
nhưng mà khác nhau như Thiên đàng và Địa ngục):
Tôi ngủ trên giường
Con chó dưới sàn
cách tôi ba mét bảy mươi lăm xăng-ti.
Sau này vợ tôi đo và bảo thế.
trong “Chuyện còn dài”:
Con gián bò quanh tôi và nói
vừa đầu thai được 3 tháng tuổi
kiếp trước từng là người đàng hoàng.
và bài kết của cả tập “Giả thiết cho buổi sáng hôm
sau”:
Về già ông ít nói
không buồn, không giận
suốt đêm ngồi câu bên vũng bùn
để di dưỡng tinh thần?
…..
Và, nên nhớ, có thi sỹ nước Anh đương đại, nhờ toàn
làm thơ “chập cheng” kiểu như thế mà trở thành Thi
Bá (King of Poets) của cả vương quốc oanh liệt ấy.
Vương quốc của thi ca đích thực, với tầm các thi bá,
dường như không có chỗ cho một sợi nhỏ lý trí bình
thường nào. Nói như nhà nhân học người Pháp lừng danh
thế giới Claude Lévi-Strauss (1908~) là họ có một logic
khác!
*
Lần đầu tiên người đọc Việt Nam được đọc thơ robot,
điều đặc biệt là ngôn ngữ của chúng rất nghiêm trang.
Robot đâu biết đùa, một đặc sản của người.
Những ý và tứ thơ có khả năng kích động cực mạnh.
Thơ Mai Văn Phấn chan chứa cả trời vô thức.
Ngôn từ mà Mai Văn Phấn đã ghi lại ấy xứng đáng được
đi vào thơ ca Việt, vào văn học sử như một dòng thơ
cách tân mãnh liệt nhất. Ngôn ngữ thơ ấy chưa ai từng
viết. Nó mới lạ đến từng từ.
“Khuyến cáo của chính phủ”[5]: Những ai chưa chịu điên
và đã chịu điên đều không nên đọc Hôm sau./.
4-5/10/2009
________________________________________
[1] Nhuệ Anh, “Khi máy tính làm thơ”.
[2] Bài hát nổi tiếng của D. Bowie viết cùng Reeves
Gabrels, ra đời năm 1997.
[3] Diễn văn nhậm chức của Tổng thống Hoa Kỳ Obama.
[4] Nơi tập trung các hàng bán sắt vụn và đồng nát
của Hà Nội.
[5] Khẩu hiệu này có trên phần lớn các vỏ bao thuốc
lá hiện nay để cảnh báo mọi người đừng hút thuốc.
Thế nhưng…
ĐÃ ĐĂNG:
http://vietimes.com.vn/default.aspx?tabid=427&ID=6459&CateID=255
http://www.talawas.org/?p=12029

Dương Kiều Minh
Hiện thực giả định và hiện thực tâm tưởng trong
hai tập thơ mới của nhà thơ Mai Văn Phấn
* Không ai mở cổng
Nhiều người vẫn tìm được lối vào
(Biến tấu con quạ)
* Mỗi âm tiết lúc ấy hiện lên một sự thật. Sự thật hiển nhiên
đảo lộn mọi quy ước phổ thông
* Lời vô nghĩa mở ra tưởng tượng
(Anh anh em em)
* Thét lớn đến chết
Im lặng đến chết mà tái sinh thế giới
(Những bông hoa mùa thu)
Những câu thơ trên được trích dẫn từ hai tập thơ mới xuất
bản của nhà thơ Mai Văn Phấn. Tập thơ “Hôm sau” do Nhà xuất
bản Hội nhà văn ấn hành, tập thơ “và đột nhiên gió thổi” Nhà
xuất bản Văn học xuất bản trong cùng mùa thu 2009.
Có thể là bất cẩn, khi tôi quyết định đưa ra giả thiết về
mã khóa mà nhà thơ Mai Văn Phấn đã yểm trong hai tập thơ này.
Biết rằng mật tự trong ngôn ngữ thi ca không phải bao giờ
cũng giải được. Nhưng, như vậy không có nghĩa không có người
tìm đến để giải, và mật tự cứ nằm im vĩnh viễn. Lý sự là vậy,
nhưng thực tế có khác đi ít nhiều.
Điểm đầu tiên tôi tìm đến là tập thơ “Hôm sau”. Đây là tòa
tháp được dựng lên bằng 27 câu chuyện kể. Bắt đầu là câu chuyện
tiếp một người khách mà: Người nhà bảo ông mất đã bảy
năm.../ Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông
khách đã ngồi/ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng
trước mặt/ Chốc lại cúi gập/ (Vẫn trấn tĩnh tiếp khách
ra ngõ).
Câu chuyện thứ hai: con ong bay vào phòng/ bằng nhựa hay
bằng gỗ?/ nham nhở trên mình những vết cắt dở dang/ đúng nó
đã bay/ tiếng vỗ cánh êm ru, hoàn hảo/ không nên tin vào một
con ong/ tôi kiểm chứng bằng những cử động nhỏ (Không
thể tin).
Câu chuyện thứ ba: Trong bóng tối, tiếng những nghệ nhân
đã khuất cùng đồng vọng:/ - Hãy quay theo mái nhà đánh thức
các đồ vật? / (…)/ Mọi người vừa quay vừa tỉnh dậy. Vẫn đủ
thời gian uống nước và rửa mặt, chọn cho mình một đồ vật bất
kỳ. Và nhanh chóng đặt chân vào vạch Xuất phát. (Quay
theo mái nhà).
Câu chuyện về “Anh tôi”: lúc gần đất xa trời, anh nhờ
tôi giữ hộ ký ức. Anh dặn đây là dữ liệu quý. Nhưng kho ký
ức tôi đã đầy ứ, cả mốc meo, thối rữa/ (…)/ anh nhìn tôi buồn
lắm! (Anh tôi).
Câu chuyện về một người đàn ông ra khỏi nhà: Lúc đi/ (…)/
chốt cửa gỗ/ kéo cửa sắt/ ông bấm năm chiếc khóa/ rồi ném
chìa vào trong nhà/(…)/ lật đống chăn nơi ông vẫn nằm/ thấy
mẩu giấy với nét chữ nguệch ngoạc:/ “Ai tìm thấy tôi ở đâu,
gọi về số…/ Xin cảm ơn và hậu tạ (Đúng vậy).
Câu chuyện về “Bài học”. Câu chuyện về Cái lưỡi tôi bị
thắt/treo lên đỉnh cột, và Đang nghĩ về chiếc lưỡi đau/chợt
cánh bướm mọc trên bờ đá (Ở những đỉnh cột).
Câu chuyện về cái chết của nhà thơ, dịch giả Diễm Châu: Buổi
sáng, ngày 28 tháng 12, mưa rơi/ Mưa lạnh thấu xương!/ Đất
lạnh thấu xương!/ Lật trang sách anh còn để ngỏ/ tiếng trẻ
con khóc trong vòm cây/ (…)/ Gió lùa về/ làm khăn trắng cuốn
quanh gốc sú/ trên đỉnh trời linh cữu nhấp nhô (Giấc
mơ vô tận).
Câu chuyện về “Đêm lập xuân”: Khêu ngọn đèn/ Từng bầy
mũi tên bay qua mái nhà vun vút. Câu chuyện về Lũ trẻ xóm
tôi biết quá nhiều về người lớn nên sớm mắc những căn bệnh
tuổi già (Dạy trẻ con). Câu chuyện về một đêm nhiều điều kỳ
quặc: Những giấc ngủ đã ngấm rượu độc/ trí nhớ rối mù, rồi
Có ai bên tai thều thào: Hãy thức chờ xem rêu phủ bầu trời/
Mặt nước ăn những vì sao cuối cùng/ (…)/ Nhà nào bây giờ cũng
thiết kế kiểu lô cốt/ trời tối không ai ra đường./ Sau lúc
0 giờ, nhà bên/ Một trí thức tỉnh dậy cười hềnh hệch/ Thú
nhận những câu nói ban ngày là chuyện đùa/ Đùa dai thật!/
Ai đang rình nấp trên cây/ Chờ lá rụng hóa thành tiền bạc
(Còn cậu hãy đứng đằng kia).
Câu chuyện về “Hắn”: Hắn cười, vung tay đấm qua lỗ thủng
khoét sẵn trên tấm bìa, rồi Hắn liệng tấm bìa vào thùng rác,
xuống tấn, đấm liên hồi vào lỗ thủng ước lệ, lao đi tốc độ
chóng mặt. (Hắn).
Câu chuyện về “Hội chứng từ một tin đồn…”: “… Có mãnh
thú bỏ rừng…”.
Câu về một cái thùng rác: trong thùng rác có bộ xương cá/
bị rỉa hết thịt trong tư thế đang bơi. Và, trong thùng rác
có cánh diều giấy/ chồng lên bó hoa, dăm bảy đôi giày/ Gió
vẫn thổi hồn nhiên qua ống sáo (Nhìn kỹ).
Câu chuyện về ông trưởng thôn với chị thu tiền điện:
đêm qua bị bắt quả tang/ đang ôm hôn ông trưởng thôn trong
quán thịt chó… Lão chủ quán thịt chó... bị người khác đến
nắm tình hình... / về đến ngõ vợ đã mắng té tát/ Bạc đầu còn
ngu!/ Lão cay mũi/ ức đến tận cổ/ nhưng nghĩ đi nghĩ lại/
thấy đúng quá/ lén lút uống dăm ba chén rượu/ ra sân nhìn
nắng lên (Biết thì sống).
Câu chuyện về con gián: Con gián bò quanh tôi và nói/
vừa đầu thai được ba tháng tuổi/ kiếp trước từng là người
đàng hoàng/ Đàng hoàng sao chịu phận xẹp lép?/ Tôi không tin
và đu lên khung cửa/ Thế nhân chứng đâu? Vật chứng đâu?/ con
gián giơ một chân lông lá/ Ừ, thì tạm coi đây là cánh tay…
(Chuyện còn dài).
Câu chuyện về ông già: Về già ông ít nói/ Không buồn,
không giận/ Suốt đêm ngồi buông câu bên vũng bùn/ để di dưỡng
tinh thần/ (…)/ Có thể dưới bình minh đen/ chất ngất những
con cá đen/ Gió móc vào ông lưỡi câu có ngạnh (Giả thiết
cho buổi sáng hôm sau). Và câu chuyện về “Biến tấu con quạ”.
Đây là bài thơ kết tinh quá trình cách tân thơ Mai Văn
Phấn. Bài thơ tụ hội đầy đủ những gì đã lắng đọng trong một
thời gian không hề ngắn của công cuộc tìm tòi cách thể hiện
mới, kiến tạo nên giọng điệu thơ Mai Văn Phấn trong dòng chảy
của thơ hiện đại: Tử khí kéo ngọn bấc tới đỉnh trời/ Con
quạ rực sáng/ */ Khai sinh/ Sau tiếng quạ kêu/ Ra đi không
cưỡng lại/ Gói bọc được mở ra/ Sự băng hoại không thể cất
giấu/ (…)/ Bổ nhào từ đỉnh cao/ Bằng đôi cánh sắc/ Lấy tâm
điểm xác chết/ chém toác bầu không/ Gió hấp tấp không kịp
băng bó/ (…)/ */ Con quạ mơ/ Mọi cái chết đều được sắp đặt/
Sau tiếng quạ kêu/ Ai đã tự nguyện nằm xuống (Biến tấu
con quạ).
Ở tập thơ “Hôm sau” , mỗi bài thơ là một câu chuyện, như tôi
đã tổng thuật có tính toát yếu ở phần trên. Có người hỏi:
Đấy là sắp đặt hay là thơ? Lại có người hỏi: Đấy là thơ hay
là ngụ ngôn?
Vấn đề không chỉ dừng lại ở tính ngụ ngôn hay sắp đặt, đối
với thơ hiện đại, việc nhà thơ kế thừa những thể loại văn
học có sẵn là không cần bàn cãi. Điều cốt yếu là ở chỗ, thơ
hiện đại đã đổi thay những gì. Cái ta thấy gần nhất, nhưng
lại không kém bề quan yếu đó là việc đảo lộn mọi quy ước phổ
thông. Đây là bức tường thành thứ nhất cần phải vượt qua khi
tiếp cận thơ hiện đại. Thơ Mai Văn Phấn không nằm ngoài từ
trường đó.
Mỗi bài thơ của Mai Văn Phấn là một câu chuyện, những câu
chuyện đó không theo quy ước phổ thông, tức không tuân theo
thói quen sẵn có của tư duy. Hiện thực được giả định, được
đập vỡ, được cày xới, được chiếu rọi từ nhiều phía cùng một
lúc. Và khi ấy mỗi âm tiết hiện lên một sự thật. Sự thật hiển
nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ thông. Và, ta cũng có thể nói
rằng, giả định một hiện thực để tạo ra một hiện thực mới mang
tính chân thực cao hơn cái hiện thực mà ta từng thấy.
*
Chuyển qua tập thơ “và đột nhiên gió thổi”. Chúng ta vừa
đi qua một chặng đường dài nơi Khi qua khe cửa hẹp/ gió
biển đang bắn vào từng mũi tên mát rượi. Giờ ta lại đang
đứng trước một hiện thực không chỉ được giả định, mà là một
hiện thực hiện lên từ tâm tưởng. Đó là điều chính yếu tôi
muốn đề cập ở tập thơ này.
Hiện thực hiện lên từ đầu dây điện thoại: Khoảng cách
với đầu dây bên kia là ruộng đồng, làng mạc, quang gánh. Là
xe cộ, tháp dựng, rễ sâu. Giọng em không vượt qua mà làm cho
chúng bé lại, mở thông những cánh cửa sang nhau (Nghe
em qua điện thoại). Chợt thấy con đường/ Tự nghiêng trong
đêm/ (…)/ Cả ngôi nhà lao đi chóng mặt/ Sửng sốt, rã rời khi
gặp bình minh/ Anh bấm số điện thoại tưởng tượng/ để em biết
mọi điều từ trong giấc mơ (Để nhận ra anh).
Hiện thực khi “Nhắm mắt”, “Bưng chậu nước lên cao”, “ra phố”,
“tắm đầu năm”, và khi “ra biển”.
Mỗi cơ thể con người mở ra nhiều con mắt lạ, khi những
nọc độc bị phong kín vĩnh viễn không tìm thấy đường ra. Nhắm
mắt thấy em không rộn ràng như khi mở mắt. Nhưng sự im lặng
của em vang lên những âm thanh kỳ lạ (Nhắm mắt).
Từng bậc cầu thang/ từng bậc khuôn mặt tôi/ và hơi thở
hòa trong chậu nước/ (…)/ Lúc chậu nước lên cao/ những hình
ảnh của em vừa hiện/ Đem ghép lại chẳng có gì đồng điệu
(Bưng chậu nước lên cao).
Tôi mang giấc mơ ra phố/ Lúc ăn sáng thấy mình giống miếng
mộc nhĩ/ sôi lên trong nồi nước dùng/ nồi nước sâu tám mét/
Vào thăm bạn trong ngõ hẹp/ biển số nhà giống miếng mộc nhĩ/
đang sôi trong nồi nước dùng/ Tiếng bạn vọng từ độ sâu tám
mét (Chọn cảnh).
Thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch/ quay về tắm bằng ngọn
đèn/ (…)/ Xối ánh sáng vào từng góc khuất/ góc khuất như lò
thúc mầm/ (…)/ Vừa xối mạnh vừa gọi tên em/ ánh sáng bồng
bềnh bụng mang dạ chửa/ thử gọi một ai xa lắc xa lơ (Tắm
đầu năm).
Ra biển một mình/ nỗi nhớ buộc vào chân tóc/ cơ thể em
trước đại dương phần phật (Anh anh em em).
Hiện thực của tình yêu được hiện lên như một nghi thức, sự
gieo trồng, sự khai mở, và dâng hiến với giác quan nhiều
chiều,... thét lớn đến chết/ im lặng đến chết mà tái sinh
thế giới.
Yêu nhau. Là nghi thức dâng tụng trời đất (…) Đất rùng
mình. Sông chảy. Ngàn vạn đọt mầm từ thân thể nở bung
(Anh anh em em).
Lan nhanh, choáng ngợp đất hoang vừa mở/ Em đổ từng trận
lũ dại cuồng/ (…)/ Nụ hôn nín thinh, tỏa nhiệt, khoan vào
lòng đất (Bài hát mùa màng).
Anh thu mình bay vào vô tận/ ngọn tháp dâng cao giác quan
nhiều chiều (Nơi trời rộng).
Anh mơ được em gieo trồng trên ngực/ Bàn tay dịu dàng
vun vào da thịt (Bài ca buổi sớm).
Thân thể em sáng lên trong hương cỏ mặn mà/ Trong hoa
cúc dại thắp dọc triền đê chi chít những cây nến nhỏ./ (…)/
Tỏa hương thanh khiết em bảo: Mình vừa tái sinh dưới đám mây
bay (Những bông hoa mùa thu).
Bài thơ “Mưa trong đất” gồm 7 khúc. Bài ca ngân vang giai
điệu của thiên nhiên, của tình yêu và của đất đai mùa vụ.
Bài thơ đã phủ lên cánh đồng thi ca của Mai Văn Phấn một làn
hơi ẩm trong trẻo mát lành. Một đời sống mới được hiện lên
tinh khôi sau cơn mưa.
Những hạt mưa rơi xuống. Em nhắc chúng ta từng là giọt
nước. Trong lành em rơi xuống anh./ (…) Lúc mặc áo chống nắng
em giống cái kén di động trong phố. Xe cộ giăng giăng cùng
những sợi tơ người (…) cái kén di động đi xe máy, nhắn tin
qua điện thoại di động: “Em hop xong. Anh nho doi mu va uong
nhieu nuoc”./ (…) Em xuyên qua từng bức tường nắng gắt. Qua
những ngôi nhà như áo rộng thùng thình. (…). Thoảng nghe xơ
xác những dọc hành trong cơn mưa đầu hạ. Tiếng cá quẫy giật
mình đêm vắng. Và mùi rau thơm bịn rịn chân tường. (…) Bát
canh nóng mở cửa phòng chật hẹp./ (…) Ẩn hiện không gian một
chiếc bình lớn. Ai đang về giữa hạt sương trong. Tiếng sấm
sâu hút. Cánh hoa mong manh vươn tự do… (…) Miệng em hé lộ
khu vườn yên tĩnh (…) khu vườn bình thản trong mùa thu. Nhưng
trên vai em mùa hạ vẫn ầm ào đổ xuống (…)/ Ta rực rỡ trong
vỏ bọc đêm tối (…)/ Ta xoải mình trở thành người khác, làm
hạt giống giã từ sân kho, bồ hóng gác bếp, giã từ thúng mủng,
chum vò... lăn xuống đất đai (Mưa trong đất).
“và đột nhiên gió thổi” của Mai Văn Phấn là tập thơ tình.
Trong tập nói nhiều về tình yêu, với nhân vật “em”. Ở đây
ngoài nhân vật em – trữ tình, còn có nhân vật em – người vợ,
với nghĩa vợ – chồng, “vợ tôi” (MVP). Trong thơ trữ tình của
Việt Nam và của thế giới, nhân vật “vợ”, với nghĩa “vợ tôi”
xuất hiện không nhiều, đặc biệt là trong thơ hiện đại, nhất
là đối với thơ của các nhà thơ cách tân, ở Việt Nam cũng như
ở nước ngoài. Đây là một điểm rất khác biệt trong sự cách
tân của nhà thơ Mai Văn Phấn được thể hiện trong tập thơ tình
này.
Vợ tôi bảo muốn chữa bệnh đau
đầu/ phải hồn nhiên như cỏ/ (…)/ Vợ lại bảo dù trí tuệ uyên
bác/ nhưng chân tay ngại cử động/ cũng chẳng nghĩa lý gì/
(…)/ Tôi vắt sợi dây qua xà nhà/ buộc một đầu vào chỏm tóc/
cả lúc chăm chú đọc sách/ tay vẫn giật như culi kéo quạt/
Vợ chồng thay nhau ngủ/ quyết không làm người thừa/ vừa tư
duy vừa cầm dây giật (Sống hồn nhiên).
Tôi ngủ trên giường/ con chó dưới sàn/ cách tôi ba mét
bảy mươi lăm xăng-ti/ Sau này vợ tôi đo và bảo thế (Nếu).
Bảo tôi sợ hắn, không phải. Muốn thu nạp hắn, không. Hay
lãnh đạm, trốn tránh, nể trọng… Cũng không, thế mà hắn đan
lẫn vào tôi từng hơi thở. Vợ tôi giải thích: Trong âm có dương,
trong dương có âm./ Hết tranh luận (Đến trong ý nghĩ).
Về đến ngõ vợ đã mắng té tát/ Bạc đầu còn ngu/ (…)/ Lén
lút uống dăm ba chén rượu/ ra sân nhìn nắng lên (Biết
thì sống).
Thoáng khuôn mặt vợ con trong khoảng
lặng những quảng cáo thương hiệu (Đến trong ý nghĩ).
Điểm tôi vừa muốn nhấn mạnh và lưu ý về thơ tình của Mai Văn
Phấn, không chỉ là câu chuyện người vợ với nhân vật “vợ tôi”
- Đây cũng là điểm mới mẻ và khác biệt trong công cuộc cách
tân của nhà thơ Mai Văn Phấn trong hai tập thơ mới xuất bản.
Đây là một nét đặc trưng của tính truyện trong thơ cách tân
của Mai Văn Phấn. Cái gọi là tính truyện của bài thơ là phương
tiện để nhà thơ tiếp cận hiện thực, với cái nghĩa là cái hiện
thực được giả định. Cái hiện thực đã phá vỡ, và được kiến
thiết lại thích nghi với một đời sống mới. Chất văn xuôi trong
thơ Mai Văn Phấn không hẳn nằm ở cú pháp, mà được đặt ở sự
phóng to các chi tiết của hình ảnh, cùng với nội dung khác
biệt bài thơ được khoác lên cái áo của tự sự mang tính phóng
dụ.
Hiện thực được giả định là quyết định lựa chọn trong sự cách
tân thơ hiện đại của Mai Văn Phấn. Sự giả định được thực hiện
trong cách thức xếp đặt và phương pháp giải thích của bài
thơ. Trong nó thu nạp và phát huy các yếu tính tự trào, tự
giễu trong lối giễu nhại và phóng dụ. Cuộc sống luôn được
kiến tạo bởi cái nghịch lý, cái không trật tự của hiện thực.
Tự bản chất của sáng tạo thi ca, nó phá vỡ các khuôn khổ định
sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý tưởng thơ
nhằm làm phát lộ những bí ẩn trong vô thức và ở cuộc đời,
với ham muốn không ngừng chiêm ngưỡng và vươn đến cái chưa
biết, và cái vô tận.
Sự vật vốn tĩnh, con người vốn động. Trong thế giới thi ca
Mai Văn Phấn cho thấy sự vật biến động không ngừng, còn con
người thì tĩnh. Từ kết cấu của mỗi bài thơ, cho tới nhịp điệu
thơ Mai Văn Phấn, luôn hòa vào dòng chảy của những nghịch
lý với tốc độ chóng mặt, tốc độ của “những mũi tên vun vút”.
Nếu ai đó có vấn đề về khí và nhịp tim, khi đọc các chương
24, 25, 26 trong bài thơ dài “Những bông hoa mùa thu” của
Mai Văn Phấn, rất nên cẩn trọng, nếu không muốn phải thở hỗ
trợ bằng bình ô-xy. Bởi ba chương thơ trên, mỗi chương chỉ
là một câu quãng 170 từ, không có ngắt câu bằng dấu chấm,
phảy, mà phải đọc một mạch, một hơi.
Thơ hiện đại mang trong mình cường độ và tốc độ của xã hội
hiện đại, đối với những ai có sức khỏe không tốt, cần có lời
cảnh báo trước. Đây cũng là một đặc trưng, rất nên tham khảo
khi tiếp cận và thích nghi với thơ hiện đại. Đọc thơ hiện
đại, đôi khi cần phải luyện tập, bởi nó liên quan trực tiếp
tới thói quen của tư duy và thể lực của cơ thể. Hai tập thơ
mới của nhà thơ Mai Văn Phấn, giúp tôi quả quyết đưa ra ý
kiến này, mà tôi đã định bỏ qua.
DKM.
ĐÃ ĐĂNG:
+ Báo Văn Nghệ Công An, số 114, ra ngày 19/10/2009.
+ http://trannhuong.com/news_detail/2695/HIỆN-THỰC-GIẢ-ĐỊNH-VÀ-HIỆN-THỰC-TÂM-TƯỞNG-TRONG-HAI-TẬP-THƠ-MỚI-CỦA-MAI-VĂN-PHẤN
+ http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=11105&LOAIID=28&TGID=843

Nguyễn Hoàng Đức
Mai Văn Phấn, ngòi bút phiêu lưu giữa những biến
cố của tâm hồn
Trong những nhà thơ đất cảng Hải Phòng, thú thực chỉ có
hai nhà thơ khiến tôi giật mình. Người thứ nhất là Dư Thị
Hoàn, tôi bất chợt đọc một hai bài thơ đăng trên tạp chí nào
đó, thấy một giọng điệu thơ thật khúc chiết, thâm sâu, trải
nghiệm, và mang cả cảm quan vũ trụ.
Người thứ hai khiến tôi giật mình chính là nhà thơ Mai Văn
Phấn. Thật ra, chữ giật mình không đúng lắm, vì đó chỉ là
khoảnh khắc ngắn ngủi, trái lại tôi đã chiêm nghiệm cả hành
trình mà Mai Văn Phấn lầm lũi đi xuyên qua những địa tầng,
khai sơn phá thạch, để mở lối cho đường thơ của mình. Có một
nguyên tắc thẩm định mỹ học rất thống soái rằng: người
ta không thể làm ngơ hay thiếu tin tưởng về một tác giả đang
có trình độ và phong độ mỹ học.
Tức là một tác giả đã đạt đến một trình độ nhất định, lại
đang có phong độ, thì dường như chẳng thể nghi ngờ tác phẩm
của tác giả đó lại có thể xuống cấp thành thứ dở ẹc được;
trái lại, tác phẩm đó tương xứng với tác giả của nó, hoặc
cao hoặc thấp một tẹo, nhưng đó là một giá trị tương đương,
xấp xỉ. Cây nào sinh trái ấy mà. Đó là một cách nhìn tham
chiếu của tôi để suy luận rằng: nhìn hành trình của tâm hồn
trăn trở đi tìm thơ qua những cung bậc và giai đoạn của Mai
Văn Phấn, ta thấy ít ra tác giả đã ghi dấu và gây tin tưởng
về con đường, cũng như cách đi đường khá dài, khá xa, khá
cheo leo, khá vượt mình... trên đó những dấu mốc đã được cắm
lên. Cụ thể, tác giả đã ra những tập thơ: Giọt nắng (1992),
Gọi xanh (1995), Cầu nguyện ban mai (1997), Nghi lễ nhận tên
(1999), Trường ca Người cùng thời (1999), Vách nước (2003),
Hôm sau (2009), và đột nhiên gió thổi (2009). Rõ ràng,
đây không phải một tác giả chỉ yêu thơ theo lối ngâm vịnh,
mà là người miệt mài, hăm hở, nhiệt thành, phấn khích không
biết mệt để đặt ra những dự phóng cũng như dõi mắt liên lỉ
về phía chân trời thơ trong thế giới tâm hồn cũng như mục
đích của cuộc đời mình. Hành trình đó tôi không chỉ “chứng
nghiệm” trong những trang thơ mà cả ngoài cuộc đời.
Lần đầu tiên tôi gặp họ Mai ở nhà một anh bạn thơ lâu niên,
anh Phấn đi cùng vợ. Thoáng nhìn tôi chợt nhủ: một người chồng
đang hạnh phúc thế kia làm sao có thể trở thành một nhà thơ
được, vì có một phương ngôn rằng “Một nhà thơ giỏi thì phải
là một ông chồng tồi”. Tôi còn nghĩ chắc đây là một anh tỉnh
lẻ khăn gói lên kinh đô để cải thiện cho danh vọng văn hoá
của mình.
Nhưng Mai Văn Phấn đã không dừng bước ở vạch xuất phát đầu
tiên, cứ thế anh liên tục phá đường đi về phía trước. Trung
bình cứ hai năm anh cho ra đời một tập thơ, không phải theo
lối bôi chữ lên giấy một cách hình thức để che đậy sự sốt
ruột hay trống rỗng của tâm hồn, mà mỗi tập thơ của anh đều
là một cuộc nhảy vọt khỏi chạm vạch đích của tập thơ trước.
Phải nói, anh đã thể nghiệm rất nhiều bút pháp thơ từ cổ điển
đến các khuynh hướng thơ hiện đại thế kỷ hai mươi và thơ văn
xuôi. Tất cả đều được cày xới, chiêm nghiệm, chìm đắm đến
nhuần nhị. Đọc thơ anh, có cảm giác bình thản như một nhạc
công đã tu luyện thành thạo và dễ dàng biểu diễn những khúc
nhạc khó nhẹ như lông hồng.
Mới đây, gặp Mai Văn Phấn lên Hà Nội, nhân đem hai tập thơ
mới là “Hôm sau” và “và đột nhiên gió thổi”,
trước mặt các bạn thơ Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh,
Lương Tử Đức... tôi đã nói rằng: nhìn hành trình thơ và diện
mạo sống động của Mai Văn Phấn hiện giờ, tôi thấy rõ anh đã
hành trình ngược đến thơ. Đó là anh đi từ vai cán
bộ, trở về thường dân, rồi vòng lên tu sỹ ngồi thiền, rồi
đến nhà thơ. Đây là một hành trình có vẻ “bại trận” ở cuộc
đời, ai lại mong từ cán bộ trở về dân đen trong khi người
ta mong được thoát ly như sự nâng cấp cho cuộc đời. Nhưng
với thơ thì đây là một hành trình tiến bước và leo cao, bởi
lẽ: cuộc đời càng thoát ly khỏi vai vế ưu tiên thì tài năng
của con người càng trưởng thành. Và trong muôn người cầm bút
hiếm hoi lắm mới thấy một nhà thơ Mai Văn Phấn cởi áo quan
mặc áo vải nhà thơ. Đó cũng là lý do chính yếu làm cho tác
giả tự nuôi dưỡng và truởng thành trên con đường thơ của mình.
Bàn về nhà thơ thiết thực hơn là bàn về văn bản thơ, đó là
sản phẩm để mà “xem quả biết cây”. Con người chỉ có thể trưởng
thành nhờ lý trí. Và lý trí thể hiện nó cao nhất qua việc
phản tỉnh chính mình. Trong bài “Ở những đỉnh cột”, tác giả
đã treo chiếc lưỡi của mình lên: Lưỡi tôi bị thắt/ treo
lên đỉnh cột/ mỗi lần nói/ chiếc lưỡi phải co rút/ kéo thân
thể béo ị lên cao/ Tôi giẫy giụa tựa mảnh vải quẫy trong gió
mạnh.
Một đoạn thơ rất ngắn, nhưng ở đó tác giả đã thể hiện khả
năng mỹ học và biểu tượng rất cao. Lưỡi là biểu hiện của ngôn
ngữ, nó cũng là trí tuệ, cũng là khả năng gia nhập vào công
lý, lương tri, nhưng nó bị phản tỉnh bằng cách treo lên. Treo
lên đâu? Không phải treo lên hàng rào, cửa sổ hay chỗ nào
khác mà là treo lên đỉnh cột, nghĩa là nó tự vấn bằng một
chuẩn mực cao nhất, chứ không phải thứ vu vơ.
Cuộc phản tỉnh luôn thường trực trong con người tác giả, đến
mức lúc nào anh cũng thấy mình bị phân thân thành hai nửa,
nửa nọ đang dò xét nửa kia: Hắn thường đến với tôi trong
ý nghĩ./... /Bảo tôi sợ hắn, không phải. Muốn thu nạp hắn,
không. Hay lãnh đạm, trốn tránh, nể trọng... cũng không. Thế
mà hắn đan lẫn vào tôi từng hơi thở. (Đến trong ý nghĩ).
Từ khao khát phản tỉnh, tác giả luôn mở to cặp mắt tra xét
vạn vật và thế giới, muốn chúng trở về là thế giới thật, là
môi trường sống lành mạnh cho tâm hồn: Con ong bay vào
phòng
bằng nhựa hay bằng gỗ?.../ Nhưng hình như/ mọi con vật trong
nhà/ vẫn chế tác từ đồ phế thải: con mèo tam thể được sinh
ra từ mớ giẻ rách?/ con cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ
lon beer?/ chim họa mi hót trong lồng là chiếc ấm vỡ?/
(Không thể tin)
Hoặc: Đêm tỉnh dậy. Đồ gỗ trong phòng mọc tua tủa nấm
nhĩ. Bức tượng chảy xệ xuống thành nắm đất nhão... Tôi quay
cùng chai lọ, con giống, bóng đèn… qua môi người thợ thổi
thủy tinh, qua con chữ rùng mình nhìn bột giấy chìm trong
thuốc tẩy... Bóng tối nuốt sạch thực phẩm ôi thiu... Hương
trà thơm về rừng. Nước gào thét trong chiếc ấm bục đáy.
(Quay theo mái nhà).
Cuộc phản tỉnh thật bức xúc và mãnh liệt, đến mức ngay cả
ở đáy ấm, người ta cảm giác như trong cơn xoay vần cực bĩ
của càn khôn: Nước gào thét trong chiếc ấm bục đáy.
Cuộc phản tỉnh không phải cách ngao du hay làm huyên náo để
tâm hồn đỡ buồn, mà tác giả luôn truy xét, chiêm nghiệm, và
soi thấu nghiêm khắc chính mình qua những bài học làm người.
Trong bài “Bài học” tác giả viết: Cánh và khuỷu tay vẫn
cứng/ Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm/ Đạo mạo múa tay trong
bị/ .../ Đạo mạo giết một con muỗi/ Đạo mạo phát biểu chung
chung/ Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng/ Đạo mạo lấy trộm áo
mưa/ .../ Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang/ Đạo mạo
ký tên vào công trình khoa học/ Đạo mạo làm thơ tình khi đã
liệt dương/ Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác/ Đạo mạo
đánh tráo bài thi/ Đạo mạo tiêu tiền âm phủ...
Trong truyện ngắn “Hóa thân”, tác giả Franz Kafka nổi danh
hàng đầu thế giới đã tìm cách cứu vớt sự xuống cấp của con
người bằng cách phản tỉnh: chàng trai kia khi ngủ tỉnh dậy
thấy mình là một con bọ, chàng cử động những cái chân của
con bọ một cách vụng về nặng nhọc, rồi suy ngẫm về bản thân
mình. Mai Văn Phấn bằng con đuờng của mình đã hạ mình xuống
ngang loài gián để phản tỉnh tư cách của mình: Con gián
bò quanh tôi và nói/ vừa đầu thai được ba tháng tuổi/ kiếp
trước từng là người đàng hoàng/ .../ Con gián giơ một chân
lông lá/ Ừ, thì tạm coi đây là cánh tay/ .../ tôi và con gián
cùng hội thảo khoa học/ cùng đeo khẩu trang, cùng ngắm hoa/
.../ Con gián và tôi từ giờ sòng phẳng/ Nó chui ra. Tôi vô
cảm./ Nó gặm nhấm. Tôi ngập chìm./ Nó leo tường. Tôi thù vặt./
Nó bài tiết. Tôi ăn gian./ (Chuyện còn dài).
Tất nhiên tác giả không phản tỉnh để tâm hồn tập trận giả
bên thiện bên ác, mà để khao khát về một thế giới tốt đẹp.
Trong bài “Nếu”, tác giả viết: Tôi mơ:/ đêm ngủ không
cần khóa cửa/ ra đường chẳng ai lừa mình/ họ nghĩ sao nói
vậy/ thoáng món ăn ngon và nắng đẹp/ Thật tội nghiệp con chó!...
Người phản tỉnh sẽ trưởng thành. Và chính nhờ hành trình phản
tỉnh liên tục của mình, Mai Văn Phấn đã trưởng thành ngòi
bút mỹ học. Tác giả thật sâu sắc và thấu đáo khi biểu hiện
sự trưởng thành đó qua bút pháp mỹ học ở bài “Ghi ở Vạn lý
Trường Thành”: Mây xếp lên vai từng tảng đá nặng/ nhòe
mắt cát/ thở đầy ngực cát...
Mây là vật mỏng mảnh, nhẹ nhàng, bồng bềnh bay, vậy mà tác
giả thấy nó xếp lên vai từng tảng đá nặng, đó hẳn là những
hòn đá của bổn phận lịch sử, trong một không gian khó khăn
toàn cát là cát. Và: Vạn lý Trường Thành còn xây dở?/
Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ/ Bắt được kẻ nào vừa
vác đá vừa làm thơ/ đánh hộc máu mồm...
Trong nỗi gian khó lao công của những người phu phen, phải
vác đá xây thành, vậy mà tác giả vẫn chắt ra từ hàng hàng
đống đá chất ngất đó một cái nhìn mỹ học vừa vác đá vừa làm
thơ, thật hiếm lắm thay. Những phu phen lam lũ nặng nhọc đang:
Còng lưng đẩy nắng đi/ Chồn chân đẩy gió đi/ Miễn sao
gần được bông hoa/ đang mởn mơ trong gió lớn.
Ý tưởng mỹ học ở đây rất nhất quán, không hề vu vơ, ngẫu nhiên
chút nào, bên trên thì vừa vác đá vừa làm thơ, bên dưới là
cảnh tìm mọi cách để đến gần bông hoa.
Và những ý tưởng hay giấc mơ về cái đẹp của bài thơ hay bông
hoa, không thể là biển chỉ đường dẫn người ta đến cõi thiên
thai xa đời, thoát tục... mà tác giả muốn biến chúng thành
tấm biển chỉ đường về thực tại. Thực tại làm người. Thực tại
nhân văn dù đã trải qua cả nghìn năm vẫn tươi rói hơi thở,
vết thương, cũng như bài học lịch sử cho thế giới nhãn tiền:
Đây là đỉnh trời
hay đáy vực sâu/ chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát.
Và thêm một lần nữa ở hai câu cuối, ý tưởng mỹ học của tác
giả lại thể hiện sự nhất quán một cách trọn vẹn: Mồ hôi
du khách trên đá xám/ nở thành hoa phù dung.
Bằng cách tự đào luyện mình công phu, rất sâu sắc, cộng với
vốn văn hoá tích luỹ phong phú, Mai Văn Phấn đã sáng tạo ngôn
ngữ thơ chắt lọc, cô thấu và tinh tế. Nó không đơn giản, nôm
na như nhiều nhà thơ còn mang nặng bản năng với ngôn ngữ tranh
– tre - nứa – lá. Trong tập thơ “và đột nhiên gió thổi”, anh
viết nhiều về tình ái trực tiếp, nhưng ngôn ngữ rất tế nhị,
không thô lỗ trần trụi, dẫu vậy vẫn hừng hực mạch dập của
khao khát cháy bỏng:
Nhắm mắt thấy em không rộn ràng như khi mở mắt. Nhưng
sự im lặng của em vang lên những âm thanh kỳ lạ, mách bảo
tình yêu đã thấm vào cây cối, đường xá, phố nhà, vào vườn
tược, ruộng nương, sông suối... Từ nay ta không cần nghi ngờ
điều gì khi nhắm mắt. (Nhắm mắt).
Hoặc: Đừng trôi lại gần đám mây đẫm xăng/ Dù cố giấu
đi mười ngón tay có lửa/ Những lưỡi gió thơm tho luồn
vào lỗ tai/ Ấp lên hoang sơ giấc mơ của cỏ. (Dấu vết
bình minh)
Trong tập này, tôi đặc biệt yêu thích sức bật trong bài thơ
“Mùa xuân”. Nó mở đầu bằng một tứ rất bình dị: Có nhiều
dấu hiệu Mùa xuân/ Mây nặng. Hoa đào. Củi mục. Đường trơn.../
Tôi chỉ dẫn các con như vậy./ .../ Con tôi kẹp ngón tay thổi
hồi còi dài/ gọi đoàn tàu xuyên qua ngực tối...
Bài thơ vẫn tiếp tục bình dị chuyển động như nhịp đập của
thời gian, nhịp của mùa: Tạm biệt mùa Đông!/ Tạm biệt
mùa Đông!/ Các con tôi đang tranh luận về thời khắc...
Mấy câu thơ trên thật giản dị nhưng lại hàm xúc một cuộc sắp
đặt “lập thể” tuyệt vời. Đó cũng là cách cựa mình để chuyển
tiếp nhịp điệu của bài thơ: Các con tôi đang tranh luận về
thời khắc. “Tranh luận”, đó là biểu hiện của lý trí. Lý trí
đó lại là của những đứa trẻ. Và trong một câu ngắn như vậy,
tác giả biểu lộ được khát vọng tiến bộ và lý trí của không
khí gia đình gắn với sự vận hành của thiên nhiên vũ trụ. Và
bài thơ bỗng ngân lên chói loà, lộng lẫy cảnh sắc tươi tắn
tinh khôi của mùa xuân: Ấy là lúc bông hoa đỏ rực vô tình
rơi trên mặt nước/ hay những linh hồn được thanh tẩy bay lên?/
Là mây trắng bỗng trôi qua bàn tay ấm áp/ hay hơi ẩm nghẹn
ngào đang vỡ ra từng tiếng chim non?
Câu cuối cùng ... hơi ẩm nghẹn ngào đang vỡ ra từng tiếng
chim non nổ ra một sức mạnh thật kỳ diệu. Chúng phát ra chẳng
khác gì những vụ nổ big bang ngay giữa lòng cuộc sống với
mùa xuân đang tái tạo càn khôn trong sức mạnh phục sinh của
mình. Sự sống ngập tràn và mãnh liệt dâng lên ở khắp nơi,
đến độ, mỗi hơi ẩm có thể vỡ ra từng tiếng chim non.
Nhưng bài thơ kỳ vĩ nhất của tập thơ lại là bài “Những bông
hoa mùa thu”, gồm 27 khúc, dài 60 trang. Nó quả giống một
bản giao hưởng về sức mạnh, khao khát, cũng như thể nghiệm
hân hoan của tình yêu. Ở đó khúc nối khúc kéo vệt dài một
ái tình thật mãnh liệt: Ngựa hoang tung vó trên thảo nguyên/
kéo mây làm gió, sấm chớp/ .../ Biến anh thành bó đuốc, que
diêm, sáp nến.../ Đôi môi thiêu đốt những vùng đất rộng/ Cặp
mắt vằn vện hung dại/ nổ tung từng trái cây đơn độc...
*
Mai Văn Phấn quả xứng đáng là nhà thơ hiện đại. Theo cách
rằng: các nhà thơ cổ điển dùng chữ để biểu hiện cuộc nhào
lộn của tu từ pháp. Còn nhà thơ hiện đại dùng chữ để biểu
tỏ ý nghĩa của mình, hay cái mình muốn nói.
Nhưng có một sự thật như nhiều nhà thơ, và các phê bình gia
đã từng thừa nhận: dù thơ cổ hay thơ tân, thì cái độc giả
nhớ về nhà thơ nào đó lại phải ghi dấu ở câu nào hết sức cụ
thể. Chẳng hạn với tôi, tầm vóc của Walt Whitman dường như
chỉ cần đánh rơi hai câu là đủ: Nếu bạn muốn tìm tôi/
Hãy tìm dưới đế giày của bạn. Và: Anh cùng tôi không một xu
dính túi/ Vẫn mua được hương thơm của trái đất này...(nhưng
chớ lầm lẫn những câu thơ tủn mủn có thể đủ cho tầm vóc của
một nhà thơ lớn. Vạn Lý Trường Thành vĩ đại chỉ vì nó quá
dài mà thôi).
Đó cũng là điều chính yếu tôi muốn bàn luận với Mai Văn Phấn.
Dù làm thơ thế nào, ngôn từ có lóng lánh bao nhiêu, ý nghĩa
có sâu lắng kiểu gì... nhưng rất cần thiết phải có những phương
ngôn “cứng”, càng nhiều càng tốt để chúng đóng dấu thi ca
cũng như tên tuổi nhà thơ vào trái tim bạn đọc.
Với sức viết và văn hoá của tác giả, tôi mong anh cũng nên
thử sức ở các thể loại khác như tiểu luận, truyện ngắn, tiểu
thuyết... Đó không phải con đuờng văng ra khỏi trung tâm thơ,
mà để trở về với thơ hoàn hảo hơn. Nhiều khi chúng ta đi rất
xa, rất rộng, đại dương này qua châu lục khác, chỉ để trở
lại thấy con đường về nhà càng da diết mà thôi.
Tất nhiên đây chỉ là mấy lời chia sẻ, bởi lẽ, đối với một
tác giả có khả năng tự đào luyện mình như Mai Văn Phấn, thì
mọi lời khuyên sẽ không cần thiết.
Chúc tác giả hành trình tiếp trên con đường thơ đang mở ra
rất tương xứng với mình.
8/9/2009
N. H. Đ
ĐÃ ĐĂNG:
http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=11185&LOAIID=28&TGID=1821
http://vietimes.com.vn/default.aspx?tabid=427&ID=6454&CateID=255

Hoàng Hữu Các
Và đột nhiên gió thổi
Tôi đang viết những chương đầu cuốn tiểu thuyết “Cánh buồm
nâu đã chết” thì nhận được tập thơ “và đột nhiên gió thổi”
của Mai Văn Phấn "Nhà xuất bản văn học 2009". Tôi
không thể không đọc một tập thơ có cái tên lạ và gợi đến thế.
Thơ Mai Văn Phấn như dòng sông mùa lũ, cuồn cuộn phù sa, dữ
dội mà cuốn hút. Nếu ai không muốn lao động hết mình hẳn sẽ
không đọc được thơ Mai Văn Phấn, chữ nào của anh cũng nặng,
hằng số ảo trong từng con chữ rất cao. Giữa hai dòng thơ,
giữa các con chữ là sự bất tận của những cảm nhận, những rung
động tận đáy tâm hồn, những ấn tượng mạnh mẽ, có khi thành
nỗi ám ảnh. "Tảng đá vụn rời tự bay theo gió thổi.
Nghe sữa đọng trong từng ngọn cỏ, mắt thú dữ phát quang bóng
tối, những giọt đắng chảy về túi mật, và tro than vùi xuống
luống cày. Ta xoải mình trở thành người khác, làm hạt giống
giã từ sân kho, bồ hóng, gác bếp, giã từ thúng mủng, chum
vò... lăn xuống đất đai." (Mưa trong đất). Và: "Mảng
tường giờ đây vẫn còn khô ráo. Gió quét sạch con đường trước
cửa. Mặt đất còn hằn những nếp nhăn khát nước, xoè ngang trời
những đường chỉ tay.”
Hay: “Hạt mưa đầu tiên hay ngón tay em chạm vào khung
cửa, xuyên qua khoảng không còn ấm nóng mặt trời."
(Những bông hoa mùa thu). Có rất nhiều những câu thơ như thế
trong tập “và đột nhiên gió thổi”. Những câu thơ luôn gây
bất ngờ, đọc câu trước không lường được câu sau Mai Văn Phấn
viết gì và vì thế mà ta thật thú vị. Trước dòng sông mùa lũ,
ta nhìn thấy sắc đỏ phù sa mà khó đo lường độ dày và trọng
lượng của trầm tích. Thơ Mai Văn Phấn cũng như vậy, đọc anh
thật không dễ, mỗi bài phải đọc đi đọc lại 2-3 lần, thậm chí
nhiều lần. Mai Văn Phấn không giỏi làm thơ cho hàng triệu
người đọc. Thơ của anh là dành cho số ít, thậm chí rất ít.
Rất ít người đọc được anh, càng rất ít người cảm được cùng
anh. Thơ anh rất khó thuộc lòng, nhưng cũng rất khó quên,
nó theo ta mãi, ám ảnh ta mãi. Đọc anh, tôi tự thấy mình thèm
viết hơn và cũng biết rằng viết sẽ khó hơn, khi đột nhiên
gió thổi.
Đã đăng:
http://hoaikhanh.vnweblogs.com/post/2810/184241#comments

Nhà
thơ/ nhạc sỹ Vĩnh Phúc giới thiệu trên Webblog
MAI VĂN PHẤN VỚI “ HÔM SAU” & “ VÀ ĐỘT NHIÊN
GIÓ THỔI“
Mai Văn Phấn, Thi- sĩ- làm –thơ- bên -bờ -biển, đã
bước qua ngũ thập nhưng nội lực vẫn sung mãn tràn trề. Sau
các tập thơ: Giọt nắng (1992), Gọi xanh (1995),
Cầu nguyện ban mai (1997), Nghi lễ nhận tên (1999),
Trường ca Người cùng thời (1999); Vách nước (2003),
MVP lại tiếp bước với Hôm Sau (quý 2/2009) và và
đột nhiên gió thổi (quý 3/2009).
MVP đã có mặt từ lâu trên thi đàn, thành danh không phải
ở chỗ nhiều giải thưởng hay thơ được chuyển ngữ ra tiếng nước
ngoài mà là một trong số khuôn mặt thơ canh tân với những
bứt phá ngoạn mục. Nghệ sĩ là người liên tục vượt qua
những cuộc “vong thân” để hoàn thiện mình (MVP trả lời
phỏng vấn).
MVP đã kiến trúc mình trong lặng im, lặng im của tâm thức,
của cảnh giới và trí huệ. Nếu “Hôm sau” là cánh cửa khép lại
bên trong những ngờ hoặc, bóng tối đen nhẻm, những giấc mơ
và bầy quạ đen rúc rỉa, với Hắn và bãi phế thải
của giẻ rách/ băng vệ sinh/giày dép lạc mốt…thì “và đột
nhiên gió thổi” lại mở ra với mơn mởn xanh bông hoa cọng cỏ,
mưa trong veo, với nhịp điệu mùa màng sinh sôi và với em
con sâu đo em đu lên người anh…
Hãy đọc MVP trong lặng im và để thơ cuốn ta đi với nhịp điệu
của cảm xúc nội tại, với tầng tầng ngôn ngữ đa chiều và những
xếp lớp hình ảnh lạ lẫm đến bất ngờ kiểu như …em gieo trồng
trên ngực/Bàn tay dịu dàng vun vào da thịt …hay …Bổ nhào
từ đỉnh cao/ Bằng đôi cánh sắc/ Lấy tâm điểm xác chết/ Chém
toác bầu không /Gió hấp tấp không kịp băng bó...
Nhà
thơ Hoài Khánh giới thiệu trên Webblog
Với Hôm sau, nhà thơ Mai Văn Phấn thêm một lần
tự đổi mới thơ mình
Tập thơ Hôm sau (NXB Hội Nhà
Văn - 2009) của nhà thơ Mai Văn Phấn vừa được ra mắt
bạn đọc. Chỉ có 27 bài thơ, qua những ngôn từ lạ và nền
tảng xúc cảm có bề dày, tác giả tiếp tục cho bạn đọc
có thêm một giọng điệu mới, một bầu không khí mới.
Tập thơ Hôm sau của Mai Văn Phấn
là một cuộc tự đổi mới thơ mình, thêm một bước tiến
mới của tác giả. Trong khi dòng chảy thi ca đương đại
trong quá trình hội nhập có phần ít giao động, Mai Văn
Phấn đang cố gắng tạo cho mình một sự bứt khỏi vết
mòn xưa cũ và tiếp tục tự vấn bằng những thôi thúc
trong chính sự hoảng loạn.
Mai Văn Phấn là một nhà thơ tiên phong cho việc cách
tân thi ca trong cả nội dung và hình thức. Trong thi ca,
hiện thực đời sống được viết đi viết lại nhiều lần nhưng vẫn
nguyên nội dung, thì đó mới là dạng chất liệu. Nội dung phải
là chất liệu đã mang một hình thức được xác định và hình thức
không bao giờ tồn tại độc lập với nội dung của chính nó. Hình
thức được chuyển hóa thành nội dung, đó là đổi mới thực sự.
Đọc tập thơ Hôm sau, vẫn thấy
rõ giọng điệu riêng của Mai Văn Phấn. Điều mừng là,
nhà thơ dù đủ dũng khí để nhận chân bản ngã, phủ định cái
cũ trong chính con người mình, nhưng vẫn giữ được cái
hồn cốt chỉ anh mới có. Hình như với Mai Văn Phấn,
dù có cách tân thi ca đến đâu đi chăng nữa thì vẫn phải
hướng con người tới cái cao đẹp. Phẩm cách của nhà thơ quyết
định cốt cách của thi ca. Khi đã vững tin trong cốt cách,
nhà thơ không ngại lao vào bất cứ vấn đề gì, kể cả những vấn
đề vụn vặt.
Sự giản dị trong thơ luôn là khát khao thường trực
và lớn nhất của tác giả. Nhà thơ Mai Văn Phấn mong sao
chỉ bằng sự giản dị mà nói được những vấn đề lớn lao và mới
mẻ. Với tập thơ Hôm sau, anh đã
làm được khá nhiều.
.
Nguyễn
Thánh Ngã
MƯỜI NGHĨ NGẮN VỀ THƠ MAI VĂN PHẤN (vừa đọc vừa nghĩ)
1 - Tôi đọc thơ Mai Văn Phấn, việc đó không quan trọng. Chỉ
gặp nhau ở "Muôn pháp là một, một đi về đâu?".
Hành tàng của anh là đây, chứ không phải ở một gương mặt đẹp
không một dòng chữ. Bởi vì Mai Văn Phấn đã là quá đủ cho "một
chiếc bình lớn". Tôi biết anh "đang về giữa hạt
sương trong".
2 - Oh! sai rồi, Mai Văn Phấn đã tự thú: "Ta xoải
mình trở thành người khác, làm hạt giống giã từ sân kho, bồ
hóng gác bếp, giã từ thúng mủng, chum vò...lăn xuống đất đai"
OK! cũng vậy cả, Phật dạy qua sông bỏ thuyền là chỗ nầy đây.
Cái đại dũng của kẻ trí biết giã từ sân kho...giã từ thúng
mủng..." để nhập cuộc. Ta không hề quên kỷ niệm,
nhưng phải biết lớn lên!
3 - Mai Văn Phấn trở thành kẻ tự tại rồi: "một họa
sĩ mới để râu đến chơi ". Ai đến chơi hoặc không
đến chơi cũng được. Ở cái thời nghệ sĩ lung tung nầy hãy nhìn
ngắm họ như một họa sĩ mới để râu, vừa ngây ngô vừa tội nghiệp,
vừa bình thường vừa im lặng.
4 - Câu thơ này hằng đời người mới có: "Những ngọn
thác câm lặng đang đổ xuống rất mạnh". Tôi không
dám khen hay, mình là cái gì mà khen chê cho mệt. Nhưng câu
thơ ám tôi và tôi đang gánh chịu cùng anh ngọn thác ấy. Vâng!
rất dữ dội để xé toang những tầng xếp nếp cũ, gội rửa lớp
biểu bì bám víu trong da thịt linh hồn.
5 - Đang có cuộc biến đổi khí hậu. Trong vụ " nổ...
nhỏ" những cánh chim “ hốt hoảng vụt bay rồi mất hút
vào đám bụi khổng lồ", " là tiếng nứt của tảng băng
gặp không khí nóng”. Tín hiệu tận thế những cảm xúc giả
tạo trong anh để chỉ còn một Mai Văn Phấn trong lễ giáng sinh
trong vắt và hồn nhiên - một thế giới văn học không còn những
bọn bẩn thỉu.
6 - Và HÔM SAU. Tôi tự hỏi: " hôm sau là gì nhỉ ?"-
Tự trả lời " hôm sau là hôm sau của hôm trước".
Mai Văn Phấn đã đến từ hôm sau để " mọi sự đảo lộn
" trước. Lời nầy không phải của tôi mà của Kafka
: "Thượng Đế không tới vào ngày cuối cùng mà tới
vào ngày hôm sau ". Hôm sau hôm sau của MVP...
7 - Anh trở thành nhà thơ của " đảo lộn "
để thấy rằng :" con mèo tam thể được sinh ra từ mớ
giẻ rách/ con cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ lon beer ?/
chim họa mi hót trong lồng là chiếc ấm vỡ ?/ con chó dụi đầu
vào tay mình là cuộn báo cũ ?/ đàn kiến đang nhẫn nại tha
mồi là đống mạt cưa?
8 - Tờ khai sinh có dòng: "bóng đêm chui dần vào
bụng con quạ " chính là kẻ thấu thị thời gian. Lê
Đạt nói " giới thơ trẻ phải " khai phá "
và " lập nghiệp " của mình . Thưa cụ, có MVP
! Kẻ được “chữ bầu lên nhà thơ”!
9 - Nhà thơ là gì nhỉ ? Là, kẻ "kể lại giấc mơ ".
Không cần " Bất tri tam bách ...". Ngay bây giờ
nhà thơ có thể sinh lại thành đứa trẻ. Không cần tuyến tính.
Anh đã thấy nhà thơ là gì qua thông điệp giấc mơ, kẻ gánh
lấy "nghiệp" trần thế . May sao nghiệp ấy cũng được
"vài trống canh "...
10 - Bài cuối cùng là một "giả thiết".
Giả thiết cho tôi không khen miệng lưỡi một tí: Bài thơ là
niềm cô độc giải thoát, trí tuệ đã biến thành hồ nước rộng.
Và hành giả (nhà thơ) là kẻ đạt đạo còn phải chịu nốt kiếp
nạn bởi gió hóa hiện thành lưỡi câu có ngạnh. Da thịt thơ
âm ỉ triền miên lời của Nietzsche: "Thượng Đế đã chết"!
Saigon 23/9/2009
NTN.
ĐÃ ĐĂNG:
http://www.vannghesongcuulong.org.vn/modules.php?name=News&file=save&sid=5731
Lê
Vũ
“Bài học”& Phong cách Hậu hiện đại
Bài học
Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm
Đạo mạo múa tay trong bị
Tôi học bài này từ nhỏ
(Một lần bị khinh như mẻ
Thằng đạo mạo đạp mình xuống lề đường
Cạch đến già!)
Đạo mạo giết một con muỗi
Đạo mạo phát biểu chung chung
Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng
Đạo mạo lấy trộm áo mưa
Đạo mạo thở mùi hôi vào miệng người khác
Đạo mạo bọc nhầm một chiếc răng sâu
Đạo mạo tiểu tiện nơi công cộng
Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa
Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp
Đạo mạo xỉ mũi vào cửa kính
Đạo mạo moi tiền của gã ăn mày
Đạo mạo nghe trộm điện thoại
Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang
Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học
Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương
Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác
Đạo mạo đánh tráo bài thi
Đạo mạo tiêu tiền âm phủ
...
Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm.
(Trích Tập thơ “hôm sau”- NXB Hội Nhà Văn 2009)
Mai Văn Phấn
Lời bình:
Cánh chim bay qua trời chiều không để lại ngấn tích và thế
giới, những kinh vĩ tuyến đen đỏ thì ngập tràn giả tạo với
những bản sao, cả những bản nhân giống và đây là một hình
mẫu:
Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm
Đạo mạo múa tay trong bị
Bài thơ mở ra với phác vẽ chân dung của hình mẫu “đạo mạo”
đĩnh đạc đường bệ, lấp lánh ánh vàng hào quang kiêm đủ cứng
mềm thâu tóm cả âm dương trong cái bị càn khôn
còn khuất lấp bao nhiêu bí mật chưa giải mã. Hình như ai cũng
phải ngưỡng mộ cúi đầu truớc cái cung cách cánh và khuỷu
tay cứng, cổ tay & ngón tay mềm? Hình mẫu/ thần tượng
được đặt lên bệ thờ chiêm ngắm, cuối cùng là sản phẩm của
“cõi trên”, thuộc đẳng cấp (caste) trưởng thượng, khác biệt
xa chừng bác nông dân bán mặt cho đất, bán lưng cho trời,
cũng tuyệt không giống anh công nhân tay quay tay búa, chị
dệt vải se chỉ luồn kim. Họ ở đấy chăm chút bản thân mình
nhưng những ngón tay co duỗi có gì đó máy móc, giả giả. Ám
ảnh treo lên với ngờ hoặc…
Hốt nhiên ánh vàng lấp lóa như bị bôi bẩn, sạm lại, một mảng
vỡ lở lói của thần tượng rơi xuống khi kìa kìa, bàn chân đạo
mạo ló ra tung một cú đạp của bọn võ biền thô lỗ thích
động tay chân.
Thằng đạo mạo đạp mình xuống lề đường
Bề trên bị gọi bằng “thằng”, đạo mạo cũng là “thằng” không
khác. Tiếng cười bỗng lu lú đâu đó và đôi chân thần tượng
run lên bần bật, muốn ngã. Cạch đến già! Cạch đến già! Nhà
thơ sợ vì Quỷ thần kính nhi viễn chi, người trên
cũng chẳng mê chi mà gần. Đó là chuyện đời, là lý sự muôn
năm. Ngưu tầm ngưu, mã tìm mã. Vét- tôn chơi cổ cồn,
chân đất chơi quần đùi chứ không thì loạn thế loạn tâm loạn
nhịp. Đây là “bài học” đầu tiên mà Mai Văn Phấn (MVP) gửi
đến chúng ta bằng chính trải nghiệm của mình, một kinh nghiệm
đã phải trả giá nên thật đến 100%. Lở như có chung mâm cũng
ly vỡ bình tan, có đồng sàng cũng dị mộng. Trên với
dưới, cao và thấp là thuộc về giai tầng (classe) cần phân
biệt rạch ròi bằng tiêu chí, tiêu chí bên ngoài và phong thái
bên trong.
Nghiêm trang mà tếu táo, MVP xây dựng nhân vật của mình và
cũng từng bước “giải trung tâm” xô đẩy hình tượng xuống bùn.
Giơ cao đánh khẽ, tung rồi hứng, phết rồi va vết quẹt đập,
ghi rồi xóa, xây rồi đập bỏ, ngòi bút của nhà thơ thiên biến
vạn hóa, đeo đẳng tiếng cười và niềm hoài nghi triệt để. “Hậu
hiện đại tháo gỡ vấn đề tha hóa bằng cách tháo gỡ luôn hiện
thực” (Mikhail Epstein ) và MVP cũng từng lớp tháo gở
mặt nạ của đạo mạo.
Đạo mạo giết một con muỗi
Đạo mạo phát biểu chung chung
Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng
Nhà thơ lật cổ tay, he hé cái bị còn niêm phong của đạo mạo.
Này là cách ăn cách nói, cách chìa tay ngả mũ. Họ thực sự
có phong thái không nhầm lẫn với đám đông tầng lớp dưới. Cẩn
thận và cẩn thận trong từng động tác nhấc tay chứ không phóng
túng ung dung quờ quào kiểu bình dân học vụ và dĩ nhiên, không
thể hào sảng phát ngôn phát biểu như đinh đóng cột kiểu giang
hồ ăn mặn nói ngay. Cả trong cách thế nghiêng/hạ mình cũng
phải thận trọng, nghiêng đúng tầm, hạ đúng chỗ, lưng khum
đúng nếp… Tuy nhiên, cách “phát biểu chung chung”
rồi “trống rỗng” kia có cái gì đó bỗng gây nghi hoặc?
Bức màn hoài nghi vén dần lên từ một góc sân khấu. Phải chăng
đạo mạo nói kiểu ậm ừ gù gật vừa để lừa phỉnh và đồng thời
giấu dốt, còn cách thế nghiêng đầu ngả mũ lịch thiệp cung
nghiêm kính cẩn kia đích thị là cách quy lụy người trên đè
bẹp dưới? Hình tượng ít nhiều đã méo mó và người đọc ở trong
tâm thế ba phần hoang mang mấy phân lưỡng lự nên niềm kính
trọng ban đầu trở thành xộc xệch. Hoài nghi cắm xuống cột
mốc, định vị.
"Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ
thuật". (Biêlinxki). Vâng, MVP đang nói chuyện cuộc
đời bằng cách thế nghệ thuật của mình. Không sơn quét tô vẽ
bằng những ẩn dụ, ngoa dụ, MVP chắt lọc sàng sảy hiện thực,
chọn lấy những chi tiết “cứ như nó là” và ghi lại bằng ngôn
ngữ đời thường, không biểu tả những màu mè mỹ cảm, cảm xúc
được giảm trừ tối đa.
Đạo mạo lấy trộm áo mưa
Đạo mạo thở mùi hôi vào miệng người khác
Đạo mạo bọc nhầm một chiếc răng sâu
Đạo mạo tiểu tiện nơi công cộng
Bây giờ thì không còn là cú lật cổ tay nhưng là cú giật chỏ
vào hông sườn địch thủ. Mai Văn Phấn đã thực sự “giải trung
tâm”, hạ bệ thần tượng ban đầu cùng một cách khi người ta
kéo đổ những khối nhà cao tầng tại thành phố St Louis, bang
Missouri năm 1972 (1). Thượng Đế đã chết và mọi
chân lý đều mang tính hình ảnh, biểu tượng, là những ẩn dụ,
hoán dụ, những ảo tuởng bị lãng quên (2). Quàng vào cổ
nhân vật trung tâm của mình tấm băng rôn loang lổ sàm sít
hôi hám ngu dốt phi nhân cách, MVP đã đồng hóa đạo mạo với
bầy đàn dưới đáy xã hội: cũng vung vải trộm cắp vặt, phóng
uế vỉa hè rồi phùm phum thở hơi bẩn thỉu… Rõ ràng, đạo mạo
cũng là thằng, không khác và tiếng cười giễu nhại
vang lên trong chuổi thanh âm ong óng đạo mạo đạo mạo
những đạo mạo và ta mơ mang mơ máng mơ mịt mịt thực giả
đen trắng xấu tốt.
Hoài nghi là tâm thế, châm biếm (irony), nhại giễu (parody)
là giọng điệu của Hậu hiện đại và MVP góp giọng nói của mình
ở đây, một cách sắc nét
Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa
Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp
Đạo mạo xỉ mũi vào cửa kính
Đạo mạo moi tiền của gã ăn mày
Đạo mạo nghe trộm điện thoại
Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang
Người họa sĩ biết chọn chi tiết làm nên bụi vàng của
tác phẩm (Pauxtopxki). còn nhà thơ Mai Văn Phấn là võ
sĩ nhà nghề biết chọn đúng thời cơ, tung ra một cú nốc ao.
Thần tượng cánh và khuỷu tay cứng, cổ tay & ngón tay
mềm đã ngã chổng gọng và tiếng cười lần này thì không
còn/ không cần kìm nén, cứ toang toác toang hoác cả miệng.
Giễu Nhại (Parody) ở đây là một sự giễu nhại đôi, một
sự giễu nhại có ý thức về chính sự giễu nhại nên giọt
lệ chảy ra từ tiếng cười: Đạo mạo nhìn ngực chị em trong
đám tang. Ôi đời đến thế thì thôi! Tôi nhớ Nguyễn Công
Trứ và những Kẻ Sĩ một thời đã qua, lấy nhân gian làm việc
của mình, tâm đầy chính khí, bụng đầy kế sách Kinh luân
khởi tâm thượng/ Binh giáp tàng hung trung (3) mà muốn
khóc cho những tên đạo mạo hôm nay chỉ biết chú ý cái trong
đũng quần thế nào cho phổng phao, vò đầu bứt tóc kiếm kế moi
tiền ăn mày, nói năng thậm thụt, đầy bụng bia bọt hải sản,
chỉ giỏi dâm đãng, giả trá giả hình vờ vịt.
Vì lợi vì danh, vì địa vị, họ sẵn sàng ký & ký không
cần biết hậu quả.
Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học
Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương
Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác
Đạo mạo đánh tráo bài thi
Đạo mạo tiêu tiền âm phủ
Vẫn một giọng giễu nhại, MVP biến cuộc thế này thành phi
lý, là không có gì nghiêm trọng và mở ra những khả thể nhìn
vào hiện thực. Đây là một cách nhìn mới, là cảm quan hậu hiện
đại. Hiện thực thậm phồn (hyper-reality) ăm ắp nhếch nhác
với đa tầng biến dịch rối loạn với nhân quyền, tính dục, bạo
loạn máu me, đồng tính, tâm thần, tham nhũng, nghèo đói… thì
chuyện “đạo mạo” ký văn bản dây máu ăn phần, ký hợp tác lâu
dài, ký mua ký bán cả người ngợm trời biển… chỉ là chuyện
vặt nên chi, ký một công trình khoa học, đánh tráo bài thi,
bày vẻ làm thơ tình khoe của khi đã liệt dương là chuyện…
cứ nhỏ như con thỏ. Cầm bút và phản biện, do vậy,
là một nhu cầu tất yếu để xóa trắng hoài nghi những hoài nghi.
Trong “Phác thảo ở bề mặt cuộc sống”, Inrasara cũng kịp thời
ghi nhận đám đạo mạo, những cái mặt nạ, những tên người máy
cứng đơ với nụ cười nửa miệng:
Những bộ mặt nghiêm trang nghiêm nghị
tôi thấy chúng thật nghiêm trọng
bộ mặt cứng đơ núp sau mặt nạ trang trọng
chúng đang giết chết văn hóa và làm thứ văn hoá chết
Nội dung phản ánh, những “Bài học” MVP muốn gửi đến nhân
gian qua bài thơ, đã quá rõ ràng, có lẽ không cần phải diễn
giải hay ghi chú. Vấn đề tôi lưu tâm ở đây là thi pháp, bút
pháp thể hiện. Hậu hiện đại coi chừng là Hậu hại điện
khi rêu rao tính dục bầy đàn nam nữ chuồng cỡi khoe mông
má thịt đùi, là chửi bứa bừa bằng tất cả giọng điệu chợ búa,
là nhân danh giải trung tâm, tháo gỡ cấm kị (tabou) để phóng
trút vào thiên hạ đủ thứ ô uế tạp chất. Không, “Văn chương
có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ
là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại
chuyên chú ở con người. (Nguyễn Văn Siêu). Nếu cứ cố
tình nhắm mắt làm mới đổi mới bất chấp phương tiện, bất chấp
cứu cánh, mặc kệ người đọc thì CÁI MỚI đó liệu ai sẽ chấp
nhận và dung nạp?
Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp
MVP ở đây không tránh né đụng chạm đến những chi tiết trần
truồng (nếu chi tiết thực sự đắt giá), cũng sẵn lòng dùng
ngữ ngôn dung tục, đời thường, thực sự không dị ứng, không
tách biệt phân cấp văn hóa cao/ thấp nhưng vẫn không bôi
bẩn khuôn mặt thơ. Cho nên vấn đề theo tôi là LIỀU LƯỢNG,
là CÁCH DÙNG ngôn từ đúng chỗ, đúng nơi, hợp văn cảnh thì
Hậu hiện đại sẽ không làm người đọc ngoảnh mặt đi. Tôi không
tin có bao nhiêu người đồng cảm với những giọt nước đái
tí tách vàng hổ phách của Nguyễn Thị Hoàng Bắc dù đã
nhiều nhà phê bình cất tiếng hưng phấn ngợi ca như một phong
cách hậu hiện đại mới mẽ.
tiếng nước đái /nhỏ giọt/ trong bồn cầu tí tách/ thứ
nước ấm sóng sánh vàng
hổ phách/ trong người tôi tuôn ra/ phải rồi/ tôi là đàn bà
(Ngọn Cỏ)
“Bài học” kết thúc, phơi ra thành tiếng cười dài, tiếng cười
đầy nghi hoặc trong cái thế giới những bản sao áy náy làm
người:
Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm.
Giễu Nhại, theo Hutcheon, là tính "tự ý thức, tự
tương phản, tự giảm thiểu” cho phép nhà thơ đặt những
câu hỏi về nguyên bản sáng tạo nghệ thuật, câu hỏi về giá
trị căn cước bản thể cũng như mọi câu hỏi khác về ngày hôm
nay và MVP đã tận dụng đẩy đến mút cùng của nhại giễu khi
cắt phăng hiện thực bằng một nhát dao ngọt đến đầm đìa.
Với tập “Hôm sau”, mà “Bài học” là một thí dụ, MVP đã vượt
qua chặng đường cũ, trưởng thành lên trong nhận thức thế giới
với cảm thức hậu hiện đại. Nhà thơ thực sự đã tiếp cận thành
công với người đọc thông qua văn bản, gợi cho họ một cách
nhìn hiện thực, chào đón họ bằng nụ cười ý nhị và tôi tin,
MVP sẽ được đón nhận dù đó là cánh bài xích Hậu Hiện đại.
Nhưng cuối cùng, phải chăng nên suy nghĩ như nhà văn Thạch
Lam , “văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc
lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế
giới giả dối, tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong
sạch và phong phú hơn". Phải chăng không cần phân
biệt chủ trương với trường phái, hiện đại hay cổ điển mà nên
chú tâm cái trong sạch và phong phú hơn của tâm hồn người?
Cam Ranh 27/10/09- LV
Ghi chú:
1- Một đoạn trong bài thơ Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ
Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi gian giai phận sự,
Nam nhi đáo thử thị hào hùng.
Việc chính trị đã định sẵn trong lòng; Việc giáp binh đã sắp
sẵn trong bụng; Việc đời đều coi là phận sự của mình; Làm
trai như thế mới đáng mặt hào hùng.
2- Mốc thời gian đuợc xem như chính thức mở ra thời kỳ hậu
hiện đại.
3- Quan điểm của Friedrich Nietzsche.
ĐÃ ĐĂNG:
+ vanchuongviet.org
+ phongdiep.net

Nguyễn
Việt Chiến
Mai Văn Phấn với những bài thơ hướng đến một trường-thẩm-mỹ
mới
Mới đây, nhà thơ Mai Văn Phấn vừa gửi từ Hải Phòng lên Hà
Nội cho tôi 2 tập thơ mới in của anh: “Hôm sau” (NXB Hội Nhà
văn 7-2009), “và đột nhiên gió thổi” (NXB Văn học-quý III/2009).
Tôi đọc liền một mạch hết 2 tập và điều cảm nhận đầu tiên
là thú vị và ngạc nhiên. Thú vị là bởi cái giọng thơ nửa khôi
hài, nửa kể chuyện theo kiểu thế sự hiện đại mà lại xót xa
đau đáu trong tập thơ “Hôm sau” với nhiều bài thơ hay tới
độ làm tôi phải “giật mình”. Còn ngạc nhiên là bởi khúc tụng
ca tình yêu của Mai Văn Phấn trong tập thơ “và đột nhiên gió
thổi” cho thấy khí huyết thơ anh vẫn còn trẻ trung, say đắm
và tinh tế lắm. Cái đọng lại sau hai tập thơ mới này là một
Mai Văn Phấn đã định hình một phong cách, một giọng thơ hiện
đại sau chặng đường quyết liệt cách tân và đổi mới trong nhiều
năm qua.
Thời gian trước đây tôi cho rằng, thơ hay (giống như một
tấm gương phản chiếu) là loại thơ soi vào thấy mình, thấy
cuộc sống con người hiện lên sinh động với các chiều kích
khác nhau ở trong đó, còn thơ dở thì có soi vào mãi cũng không
thấy gì. Còn thời gian gần đây tôi lại nhận ra rằng, thơ hay
là thứ thơ làm cho người ta phải kinh ngạc và thật sự rung
động bởi một ý tưởng mới, một suy tưởng mới, một sức sống
mới đang làm nên những dạng thức mới của ngôn ngữ thơ. Và,
bài thơ “Ghi ở Vạn lý trường thành” của Mai Văn Phấn là một
trong những bài thơ hay khi nó mang trong mình một dạng thức
mới của ngôn ngữ thơ: “Mây xếp trên vai từng tảng đá nặng/
nhòe mắt cát/ thở đầy ngực cát/ Vạn lý trường thành còn xây
dở?/ Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ/ Bắt được kẻ nào
vừa vác đá vừa làm thơ/ đánh hộc máu mồm/ Khâm thử/ Ngước
lên gặp một khuôn mặt bì bì/ Tay lạnh, mắt chì, giọng mỡ/
Mái Phong Hỏa Đài màu huyết dụ/ Hình thanh long đao dính máu
đang kề cổ/ Còng lưng đẩy nắng đi/ Chồn chân đẩy gió đi/ Miễn
sao gần được bông hoa/ Đang mởn mơ trong gió lớn/ Tâu Hoàng
thượng/ thưa ngài/ báo cáo đồng chí/ Bỉ chức/ thảo dân/ em…/
Sẽ làm tròn bổn phận/ Đây là đỉnh trời/ hay đáy vực sâu/ chỉ
thấy trên lưng lằn roi bỏng rát/ Mồ hôi du khách trên đá xám/
Nở thành hoa phù dung”. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây
là một trong những bài thơ hay nhất của Mai Văn Phấn từ hai
tập thơ vừa xuất bản.
Trong số những nhà thơ sung sức hiện nay đang có những cách
tân được dư luận chú ý phải kể tới Mai Văn Phấn. Theo tôi,
anh đã biết cách giữ được đặc thù của ngôn- ngữ -thơ trong
chuyển động đổi mới của những con chữ. Đây chính là sự khác
biệt giữa một số cây bút cách tân đã nhân danh cái mới để
“lạ hoá” thơ đến mức phản –thơ với những tác giả có xu hướng
tìm tòi nhằm nâng cao vẻ đẹp của ngôn- ngữ- thơ bằng những
ý tưởng mới. Trong bài thơ “Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ”
mở đầu cho tập thơ “Hôm sau”, Mai Văn Phấn đã dựng một tứ
thơ khá mới lạ theo cách kể chuyện pha chút “liêu trai” khá
dí dỏm, khôi hài: “Pha xong ấm trà/ quay ra/ ông khách
không còn ở đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông mất đã bảy
năm/ Nhầm lẫn (!)/ Nhà mình/ mọi sự đảo lộn/ Không nhớ bức
chân dung hạ xuống bao giờ.../ Đâu rồi chiếc đồng hồ chạy
bằng dây cót?/ Bộ ấm chén giả cổ ai cho?/ Ghé sang hàng xóm/
thử hỏi mấy loại thực phẩm/ loại tăng giá/ loại còn giữ giá/
Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông khách đã
ngồi./ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu mươi dựng đứng trước
mặt/ chốc lại cúi gập”.
Trong đoạn thơ trên, cái hàm ý sâu xa mà nhà thơ muốn khơi
gợi nằm chính trong sự xuất hiện “đáng ngờ” của một chân dung,
một nhân vật không còn tồn tại trong đời sống nhưng vẫn luôn
lảng vảng ở xung quanh chúng ta như một ám ảnh bắt ta phải
nghĩ tới. Diện mạo chân dung ấy rất có thể là của một ông
khách hàng xóm mà cũng có thể còn là một chân dung ngộ nhận
nào khác, tùy theo sự liên tưởng của mỗi người.
Mai Văn Phấn nằm trong số ít các nhà thơ đã thành danh nhưng
đang có những tìm tòi, cách tân thơ đầy hào hứng và quả quyết.
Khoảng hơn một thập niên trở lại đây, anh và một số nhà thơ
của thế hệ hậu chiến đã nổi bật lên như những cây bút tiềm
tàng sức sáng tạo, hướng về những cách tân thực sự mang lại
cho thi ca một hơi thở mới, một sức sống mới và một biến động
mới làm lung lay những “nền tảng” cũ trong thơ trước đó. Trong
bài thơ “Đúng vậy” của Mai Văn Phấn dưới đây, bạn đọc có thể
tìm thấy dưới những câu thơ kể chuyện bình dị như đời sống
lại có một thông điệp khác của nhà thơ về thế giới này: “Lúc
đi/ ông mặc áo len màu cổ vịt, quần rộng đũng/ tóc cắt ngắn/
tay cầm sách/ ra gần cửa còn lẩm bẩm: sáng rồi tối..thối rồi
thơm..bơm rồi xì..đi rồi ngã..vả rồi thương..ương rồi chín..nín
rồi thét..kẹt rồi lơi..xơi rồi hóc..bóc rồi che..đe rồi chừa..đưa
rồi quỵt..bịt rồi hở..lỡ rồi toi..moi rồi thấy../ chốt cửa
gỗ/ kéo cửa sắt/ ông bấm năm chiếc khóa/ rồi ném chìa vào
trong nhà/ Lật đống chăn nơi ông vẫn nằm/ thấy mẩu giấy với
nét chữ nguyệch ngoạc “Ai tìm thấy tôi ở đâu, gọi về số…Xin
cảm ơn và hậu tạ”/ sau mẩu giấy vẫn còn văng vẳng: quấy rồi
đục..nhục rồi than..tan rồi huề..mê rồi tỉnh..thỉnh rồi buông…”.
Không ít người cho rằng giá trị “thật” của thi ca là phải
có thơ “hay” chứ không cần thơ phải “mới” (thà “cũ” mà hay
còn hơn “mới”mà dở!?). Nhưng một số người lại cho rằng, nếu
các nhà thơ hậu bối cứ học hỏi, “bắt chước” kiểu viết của
các đại thi hào ở những thế kỷ trước thì làm sao nền văn học
Việt Nam có được những “giá trị mới” của thơ tiền chiến 1930-1945
còn ảnh hưởng đến tận hôm nay. Như vậy, mỗi thời đại đều có
diện mạo thơ ca riêng của mình, mang hơi thở và sức sống của
thời đại đó. Vì thế, những tài năng thơ ở mỗi một giai đoạn
mới, dường như đều nỗ lực kiếm tìm những giá trị mới trong
nghệ thuật, để cho thơ hành trình cùng với đời sống tinh thần
của con người qua mỗi chặng thời gian.
Theo tôi, bản chất của sự cách tân và đổi mới thơ không
chỉ nằm ở sự tìm tòi về mặt hình thức nghệ thuật cấu trúc
của ngôn ngữ thơ mà điều thiết yếu căn cốt là ở sự đổi mới
nội dung đời sống được phản ánh trong thơ. Trong rất nhiều
thế kỷ qua, các trường phái thơ lớn trên thế giới qua mỗi
thời kỳ đều hướng tới sự tìm tòi và cách tân thơ. Điều khác
biệt (và khu biệt nhất) để có thể nhận ra được các nhà thơ
cách tân của mỗi thời đại có gương- mặt- thơ khác nhau như
thế nào chính là ở nội dung đời sống trong thơ họ ở thời đại
ấy đã được phản ánh, khắc hoạ trong một trường- thẩm- mỹ nào.
Theo tôi, các nhà thơ xuất hiện sau năm 1975, trong đó có
Mai Văn Phấn đã hướng đến những tư duy thẩm mỹ mới và hiện
đại. Thơ của họ đã vượt thoát khỏi những khuôn sáo ước lệ
của vần điệu để thắp lên những hình tượng thơ mới. Không gian
thơ được mở rộng hơn, mở sâu hơn, với tới các chiều kích của
những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao. Và, trong trường-
thẩm -mỹ này, những vấn đề tưởng chừng lớn lao lại được khái
quát lên từ những cái rất tầm thường, nhỏ bé của đời sống
quê hương máu thịt hàng ngày.
Nhà thơ Mai Văn Phấn đang hướng tới những bến bờ cách tân
ấy, anh đã bước đầu có được những dấu ấn riêng trong nền thơ
đương đại của chúng ta với tư cách là một nhà thơ rất chuyên
nghiệp, chuyên sâu và có nhiều ý tưởng mới. Trong bài thơ
“Chọn cảnh” dưới đây, chúng ta sẽ thấy Mai Văn Phấn, với một
“góc nhìn” mới về thơ cách tân đã nắm bắt và triển khai thi
pháp hiện đại một cách sáng tạo như thế nào: “Trong mơ
ngả mình trên biển/ gối đầu lên tay em/ Em nghĩ nơi đây biển
sâu 8 mét/ (tôi đọc được ý nghĩ)/ có đám mây và chim hải âu/
Tôi mang giấc mơ ra phố/ lúc ăn sáng thấy mình giống miếng
mộc nhĩ/ sôi lên trong nồi nước dùng/ nồi nước sâu 8 mét/
Vào thăm bạn trong ngõ hẹp/ biển số nhà giống miếng mộc nhĩ
trong nồi nước dùng/ tiếng bạn vọng từ độ sâu 8 mét/ Khép
bớt cửa vì lạnh/ Hơi ẩm mơ hồ ngấm xuống rất sâu/ Thấy khoảng
cách từ chân ghế tới bức tượng/ tiếng mọt kêu tới vụt nhanh
tia chớp/ giữa những khuôn mặt trong quán phở xa lạ.../ bằng/
khoảng cách giữa đám mây và chim hải âu/ đẹp tuyệt vời trên
độ sâu 8 mét”.
Một bài thơ luôn mang lại cho ta những bất ngờ đến từ mỗi
câu thơ và ta không thể đoán định nổi câu thơ sau Mai Văn
Phấn sẽ viết gì về “cái độ sâu 8 m” đã ám ảnh nhà thơ (và
ám thị luôn cả người đọc). Bạn đừng đòi hỏi sự có lý, sự hợp
chuẩn, sự dễ hiểu của những bài thơ hiện đại kiểu này, nó
có vẻ như phi-đời- sống và phi-hiện- thực nhưng nó chính là
một đời sống hiện thực 100% theo kiểu nhìn “nghiêng”. Và ở
giác độ mới này, nhà thơ đã phát hiện giúp chúng ta những
cảm nhận khác lạ về một số hiện tượng đời sống ở những góc
rất khôi hài và nhiều ý vị.
Với Mai Văn Phấn, mỗi bài thơ là một thể nghiệm để có được
một phát hiện mới, một ghi nhận mới về sự cách tân. Anh miệt
mài như thế đã nhiều năm, anh đọc khá kỹ và đọc khá nhiều
tác giả thơ hiện đại của thế giới để nắm bắt những trường
phái cách tân thơ hiện nay. Sau những kiên trì thể nghiệm
(có lúc đã đạt tới một cái gì đấy, và cũng có khi còn lúng
túng, hoang mang), thơ Mai Văn Phấn thời gian gần đây bắt
đầu “non xanh” trở lại và bớt đi những liên tưởng rắc rối
(khiến người đọc thấy choáng sốc nhiều hơn là được thưởng
ngoạn vẻ đẹp của thơ). Và bài thơ “Nghe em qua điện thoại”
là một dẫn chứng về sự “non xanh” ấy: Tiếng em trong điện
thoại rất trong và nhẹ/ Một giọt nước vừa tan/ Một mầm cây
bật dậy/ Một quả chín vừa buông/ Một con suối vừa chảy.../
Khoảng cách tới đầu dây bên kia là ruộng đồng, làng mạc, quang
gánh... Là xe cộ, tháp dựng, rễ sâu... Giọng em không vượt
qua mà làm cho chúng bé lại, mở thông những cánh cửa sang
nhau. Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng
trong đất ấm, con sông chảy vào quang gánh, làng mạc phồn
sinh tháp dựng, cánh đồng tươi tốt trên xe cộ.../ Nói tiếp
cho anh những câu bâng quơ không nội dung!/ Lát nữa em đặt
ống nghe, chắc mọi vật sẽ loay hoay tìm về đường cũ/ Chỉ còn
gợn sóng lan xa/ Chỉ còn tan trong diệp lục/ Chỉ còn thoảng
bay dịu ngọt/ Chỉ còn bờ đá lung lay...”.Một bài thơ
tình khá hiện đại, tôi có cảm nhận thơ Mai Văn Phấn đang bắt
đầu có độc giả và họ là những người đọc của thời @- cái thời
mà giá trị thi ca đang chịu rất nhiều thử thách và đang trăn
trở tìm lối thoát.
Theo tôi, cái mới trong thơ nhiều khi không cần đến sự trình
diễn cầu kỳ bằng một hình tượng lạ, một cấu trúc lạ, một biểu
đạt lạ mà điều nó hướng tới phải là một phát hiện mới về tính
suy tưởng của thơ. Và bài thơ “Hắn” của Mai Văn Phấn sau đây
là một trong những bài thơ mang lại sự phát hiện mới về tính
suy tưởng của thi ca: “Nơi bóng tối ăn thịt bóng tối/
hắn ngồi lẩm bẩm.../... lầm rầm âm thanh tiếp diễn/ của bóng
tối chưa thành/ của bóng tối nuốt dần bóng tối/ của màu đen
không thể đen hơn/ Hắn là nơi hoàn thiện: của gương đã lành/
sâu đã nở/ trinh đã mất/ cáp đã đứt/ cống đã thông.../ là
bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ sinh/ giày
dép lạc mốt.../ là viên đạn bay đi chạm đích/ những vòng kinh
hồi sinh/ dòng sông gặp biển../.Lần mò leo tận cây cao/ hắn
hô: Ê, chiếu ánh sáng vào đây!/ Theo đèn pin le lói/ mọi người
thấy hắn giang tay và bay lượn tựa thiên thần/Hắn cười và
vung tay đấm qua lỗ thủng đã khoét sẵn trên tấm bìa. Những
ngón tay xương xẩu co lại thành quả đấm thép lao qua tâm điểm
không vật cản. Hắn nghĩ, bàn tay đang tìm khoái cảm của con
chó chui qua bức tường lớn. Vị trí tấm bìa hắn giơ lên để
nắm tay kia bay qua là khoảng cách quá ngắn. Khát thở/ Mỗi
lần lao qua miệng lỗ thủng, bàn tay hắn lại xòe rộng. Tấm
bìa giống con sứa đang bơi mắc phải lưỡi câu chùm. Xoay tấm
bìa, hắn hát: trời xanh í a... đây vòm ngực rộng... Bên kia
tấm bìa là thế giới khác. Biển báo, thầy giáo cũ, biên bản
giám định, chợ búa, kỷ niệm chương, thợ móc cống, hội đồng
hương, tu sỹ, dầu tắm, bẫy chuột, nhà tiên tri... và thời
trang cũng khác (hắn nghĩ thế!). Hèn gì không chui nốt cả
tay kia (!)/ Hắn liệng tấm bìa vào thùng rác, xuống tấn, đấm
liên hồi vào lỗ thủng ước lệ, lao đi tốc độ chóng mặt/ Một
dự báo về tương lai của thể thao. Với nhan đề trang trọng
của tờ báo buổi chiều, hắn có tên trong danh sách những nhà
vô địch”.
Thật ra, thơ hay có những tiêu chí gì, chuẩn mực gì vẫn
là chuyện muôn đời xưa nay còn phải bàn cãi, vì cái hay đối
với lớp người này (ở thời điểm này) chưa chắc đã là hay đối
với lớp người khác (ở thời điểm khác) và ngược lại. Nhưng
có một điều dễ nhận ra, thơ hay là thứ thơ còn đọng lại được
qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian, bởi thời gian
là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo đích
thực của nghệ thuật văn chương. Với Mai Văn Phấn, vẻ đẹp nhân
văn của ngôn ngữ thơ vẫn mãi mãi ám ảnh những câu thơ của
anh. Và hành trình sáng tạo văn học của Mai Văn Phấn đang
hướng đến những giá trị đích thực của đổi mới thơ,trong đó
có sự tìm tòi làm giầu cho ngôn ngữ thơ.
NVC.
Đã đăng:
+ Báo Người Hà Nội số 42, ra ngày 16/10/2009.
Vũ
Thị Huyền
Nhà thơ Mai Văn Phấn - “Chữ bầu lên tư tưởng”
Tôi hứa sẽ “làm một cái gì đó” sau khi “lôi” 2 tập thơ liền
của nhà thơ Mai Văn Phấn trên mạng “ra” đọc. Rồi sách anh
gửi tặng cũng bày nghiêm ngắn trên bàn. Và… tôi cũng đã “ngốn”
xong. Nhưng cảm xúc vào một lời hứa dường như bị “đông cứng”…
để rồi mãi tới hôm nay “và đột nhiên gió thổi (*), những cảm
thức về 2 tập thơ trỗi dậy. Không chờ đợi đến khoảng lặng
nào nữa của “Hôm sau” (*).
Thành thật với bản thân – đó chính cảm xúc tác giả - cứ xung
đột liên miên với cái nhìn lý trí vào hiện thực “không thể
tin” – và – là – những – đợt – sóng xô cuốn không ngừng những
cũ mòn hay lưu cữu tù đọng…? Chìa khóa mở vào ngôi nhà thơ
Mai Văn Phấn là phải tự “giũa” cho mình một cái chìa. Anh
không làm sẵn cho độc giả những chiếc chìa giống nhau và không
phải căn phòng nào bạn cũng vào được? Bạn không muốn vào?
Hay không được chào đón?
Chữ bầu lên tư tưởng rõ nét nhất trong tập “Hôm sau” (Bài
học) là một ví dụ: “Cánh và khuỷu tay vẫn cứng/Từ cổ tay xuống
đến ngón phải mềm/Đạo mạo múa tay trong bị”. Múa tay trong
bị - là thành ngữ dân gian chỉ kẻ tiểu nhược, đạo đức giả,
trước khó khăn, hoạn nạn của người khác đã không cứu giúp
lại còn biểu lộ “sự hả hê” không dám công khai mà “múa tay
trong bị”. Một BÀI HỌC chưa cũ mà tác giả không còn là rung
chuông báo động mà đã là trống ngũ liên của “lũ sắp vỡ đê”.
Sự xuống cấp băng hoại của những “đạo mạo” chết người, của
cái “từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm”. Trong bài “Dạy trẻ
con”, nỗi nhức nhối đến nghẹn ngào một hiện thực xã hội không
thể tin kiểu: “Trẻ con nước mắt chảy vào trong”. “Chúng rủ
nhau ăn kiêng đề phòng cao huyết áp, mỡ máu, u xơ tuyến tiền
liệt”. Phản biện hiện thực hay hiện thực giả định? Đứng ở
một tâm thế nhà thơ – ý thức tác giả với cái nhìn lạnh sắc,
nhân bản – ít nhất, anh cũng gõ được vào hiện tại những thanh
âm bằng chữ hay đơn thuần gửi tới người đọc những cảm nhận
vào một hiện-thực-không-thể-tin - dưới cái nhìn thấu tỏ và
thông tuệ của mình.
Thơ Mai Văn Phấn không có sự tiếp nối. Anh luôn làm cách
mạng với chính cảm xúc của mình và còn hơn thế. Thơ anh không
phải bấm vào đâu cũng chảy máu theo kiểu tuần hoàn thông thường.
Có những bài thơ chạm ngưỡng của nghệ thuật sắp đặt. Có thể
“biến” một giấc mơ, một buổi chiều, một cái lưỡi người (chẳng
hạn) thành một miếng thịt bò và cái khoảng không chúng ta
đang sống là cái tủ lạnh khổng lồ. Đó chính là cảnh báo. Tiên
tri cần thiết của bất cứ tác gia nào về một ngày mai…. Hay
đó chính là tính dự báo trong mỗi tác phẩm thơ của Mai Văn
Phấn.
Có lẽ, để dịu mềm hay cân bằng cảm xúc cho chính mình cùng
độc giả. Ngược lại với “Hôm sau”, “Và đột nhiên gió thổi”
được “nộp lưu chiểu” cùng thời nhưng ngược khác với “Hôm sau”.
Tôi bảo đó là tập thơ tình anh anh em em và cứ thấy phảng
phất đâu đó “tính Haruki Murakami” của rừng Na-uy. Lời đề
từ “Luôn nhớ em trên lưng/con sam cái khổng lồ bao trùm mặt
đất” cũng đã chứa một “thông báo” rõ ràng. Trừ bài “Tắm đầu
năm” đáng lý anh phải chuyển sang tập “Hôm sau”, còn lại là
bản giao hưởng và mỗi nốt nhạc gợi tưởng một nỗi nhớ, mỗi
câu thơ gợi tưởng một thân hình.
“Và bất động hồi lâu trong mắt nhắm” “Ta rực rỡ trong vỏ
bọc đêm tối/ánh sáng gặp nhau nơi sợi tóc bóng đèn” “Dịu dàng
dâng lên chân mây hơi ẩm đại ngàn”… “Sự cách tân khuynh hướng
trữ tình” khiến người đọc nhiều khi phải “tháo cũi, sổ lồng”
thói quen “giam cùm” cảm xúc của mình để cảm nhận sự tàn khốc
của hiện thực “không thể tin” đến sự âu lo “Anh cầm trên tay
hòn than nóng bỏng/ngậm lút sâu vào lưỡi câu sắc nhọn/nằm
trên từng mũi kim sắc buốt/uống vội vàng ngụm nước đang sôi.
Và em và anh…”
Mai Văn Phấn không chơi chữ, tách, ngắt, bất thường trong
hàng chữ, lên xuống hay tháo rời chữ ra. Anh chỉ “làm” chữ
trong từ trường ý tưởng của mình, hướng tới một khát vọng.
Chính điều này đã hạn chế độc giả tìm đọc thơ anh, nhưng nhà
thơ không vì thế mà “thỏa hiệp”. Tôi hiểu sự quyết liệt trên
con đường sáng tạo anh lựa chọn và hạnh phúc trong mỗi câu
thơ “sáng lóe” lên “ý tưởng” soi rọi vào hiện thực, dẫu đôi
khi có làm biến dạng hiện thực đến mức giả định, không thể
tin.
VTH.
Đã đăng:
+ Báo Hải Phòng cuối tuần, số 33, ngày 13/11/2009
Văn
Chinh
(Lời giới thiệu trên website Hội Nhà văn VN)
Độc hành Mai Văn Phấn
Sinh thời, nhà văn Sao Mai nói: “Thơ có 4 cấp độ: từ, ý,
khí, thế. Như Chế Lan Viên đã thoát khỏi từ, giầu ý tứ, khí
kém nhưng thế nhiều bài đã đến.” Như Mai Văn Phấn hẳn đã không
còn phải loay hoay với vần điệu, tu từ và thật thú vị, thoát
được là tự do. Cảm giác tự do ở lối nói tung tẩy, nói như
không ngụ ý gì, như bất chợt. Cũng ở tâm thức ngột ngạt dị
ứng với những cũ kỹ ẩm mốc, những modern hot đến hời hợt,
đến vô tình mà nhặng xị. Mai Văn Phấn hiện đại mà không có
đồng minh hiện đại, chút cổ điển tinh tế chỉ còn sót lại ở
nhạc cảm toàn bài cũng bị thói đọc thơ cổ điển lướt qua mất;
ông đành âm thầm đơn độc nhưng bạo liệt với khát vọng cách
tân mình. Đọc Mai Văn Phấn tốt nhất là không nên tìm ý, đó
là các tập mờ, tâm thái ta thế nào, ký ức ta thế nào, thơ
Mai Văn Phấn sẽ chia sẻ với ta thế ấy. Nó có năng lực biến
đổi, làm bất yên những hằng thường vô vị và là chỗ cho ý thức
thẩm mỹ bám níu. Có bài đã đạt đến khí, như Ghi ở Vạn
Lý Trường Thành, đọc xong lạnh đến gai người mà không
rõ vì đâu…

Đặng
Văn Sinh
Mai Văn Phấn và khúc biến tấu "Hôm sau"
Khác với phong cách hàn lâm của mỹ học cổ điển, tác giả tập
thơ "Hôm sau" xem thơ như một thứ phương tiện thông
tấn chuyển tải thông điệp đời thường bằng chính ngôn ngữ đời
thường. Đây là thứ ngôn ngữ sống động, cập nhật, giàu sắc
thái biểu cảm, dễ tiếp nhận, bao hàm cả chức năng thư giãn
nhằm giải tỏa những căng thẳng trong thời đại được coi là
Hậu - hiện - đại.
Viết theo lối Tân - cổ - điển kết hợp với Hậu - hiện - đại
không dễ, nếu non tay, thơ rất dễ thành loại vè chợ búa nhảm
nhí. Vấn đề cốt tử là phải tìm ra ý tưởng, tiếp theo mới đến
thao tác triển khai chi tiết. Ở lĩnh vực này, Mai Văn Phấn
được xem như vị tông đồ mang sứ mệnh "vác thánh giá".
Đọc "Hôm sau", ta có thể thấy, phần lớn các bài
đều đặc sắc và gây ấn tượng mạnh bởi những phát hiện bất ngờ
hiện diện ngay trong từng chuyển động đến tế vi đời sống,
nhưng không phải ai cũng nhận ra. Điều thú vị là, mỗi câu
chuyện đời thường như thế đều hàm chứa yếu tố triết lý, nhưng
đó là kiểu triết lý hồn nhiên trong mối tương quan liên đới
chứ không phải là áp đặt máy móc. Tuy nhiên, Mai Văn Phấn
không dừng lại ở việc đưa ngôn ngữ đời sống bình dân vào thơ.
Đọc "Hôm sau", người ta dễ dàng nhận ra, sáng tác
của anh là sự kết hợp uyển chuyển của ít nhất ba phong cách,
trong đó, tân cổ điển luôn xuất hiện với tần số cao. Tân cổ
điển, hậu hiện đại, thậm chí cả siêu thực không loại trừ nhau
mà luôn bổ sung cho nhau, hòa quyện vào nhau, chuyển hóa thành
phẩm chất mới cả định tính lẫn định lượng.
Nếu "Hôm sau" chỉ dừng ở những thi pháp hiện đại
thì tập thơ đã đóng góp đáng kể vào việc khẳng định tính cách
tân của Mai Văn Phấn. Tuy nhiên, một khi "thi pháp đời
thường" được gắn với cảm quan siêu thực, tính truyện
và ngôn từ vượt ra khỏi quy ước cứng nhắc mà được đặt trong
không gian bốn chiều, hiển nhiên sẽ làm bùng nổ hiệu ứng.
Không gian siêu thực chính là bài toán giải tỏa sự bế tắc,
phẳng lỳ, nhàm chán của diễn biến tâm lý con người ở vào thời
điểm lịch sử rất khó định danh vì bị chi phối bởi tinh thần
thời đại cưỡng bức quy luật. Siêu thực còn là giải pháp đưa
con người vào trạng thái huyễn tưởng, tìm về vô thức, kích
hoạt những vùng tối đang ngủ yên, thức tỉnh để chúng tham
gia tối đa vào quá trình tư duy sáng tạo. Có thể xem những
bài "Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ", "Không
thể tin", "Quay theo mái nhà", "Anh tôi",
"Ở những đỉnh cột", "Đến trong ý nghĩ"...
thuộc loại này. Mỗi bài thơ đều là một câu chuyện trong không
gian siêu thực, thời gian hai chiều, khai triển bởi những
chi tiết đặc sắc như giai đoạn cao trào của vở kịch câm, sau
đó quy chiếu thành một triết lý nào đó. Có điều những triết
lý này không cao siêu, trừu tượng mà khá bình dân, rất phổ
biến trong sinh hoạt đời thường nhưng sẽ là nghịch lý nếu
đặt nó trong không gian ba chiều:
Pha xong ấm trà
Quay ra
Ông khách không còn ở đó
Gọi điện thoại
Người nhà bảo ông ấy mất đã bảy năm
Nhầm lẫn
...
Trong nhà
Trà vẫn nóng
Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi.
Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt
Chốc lại cúi gập.
(Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ)
Nhưng hình như
mọi con vật trong nhà
vẫn chế tác từ đồ phế thải:
con mèo tam thể được sinh ra từ mớ giẻ rách?
con cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ lon beer?
(Không thể tin)
Đấy là giờ mặc niệm tơ tằm và những cây bông. Bóng tối
nuốt sạch thực phẩm ôi thiu, không khái niệm về văn hóa ẩm
thực. Hương trà thơm về rừng. Nước gào thét trong chiếc ấm
bục đáy.
(Quay theo mái nhà)
Lúc gần đất xa trời, anh nhờ tôi giữ hộ ký ức.
(Anh tôi)
"Kìa đám mây hình người vừa lọt vào bầu trời xanh
lơ. Biết đâu tên trộm cũng vào nhà bằng tư thế ấy. Giờ hẵn
đã cải trang thành người tử tế, còn đám mây kia vẫn nhởn nhơ
bay..."
(Nghe tin bạn bị mất trộm)
"Lật đống chăn nơi ông nằm
thấy mẩu giấy với nét chữ nghuệch ngoạc:
"Ai tìm thấy tôi ở đâu, gọi về số...
Xin cảm ơn và hậu tạ".
(Đúng vậy)
Nhưng sao họ tồn tại biệt lập?
Chắc lưỡi của họ đang treo trên những đỉnh cột khác.
(Ở những đỉnh cột)
Vạn Lý Trường Thành còn xây dở?
Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ
Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ
đánh hộc máu mồm
Khâm thử!
(Ghi ở Vạn Lý Trường Thành)
"Hôm sau" là tập thơ mang màu sắc triết lý đến
độ đậm đặc. Đó là thứ triết lý được xác lập trên cơ sở những
dữ kiện đời sống tồn tại như một nghịch lý. Tư duy mỹ học
ở đây phải được đặt trong vùng không gian ảo. Sự liên kết
những hiện tượng đơn lẻ sau khi đã sàng lọc của đời sống vốn
lắm hệ lụy qua công đoạn tích hợp đã chuyển hóa thành phẩm
chất mới. Thùng rác là môi trường bẩn thỉu nhất, chỉ thích
hợp với chuột, gián và ruồi muỗi, người ta lại in đậm dòng
chữ "Ở đây không ô nhiễm, xin bạn yên tâm",
chính là một nghịch lý. Từ hiện tượng nghịch lý trên, đến
triết lý về sự nghịch lý, người đọc không khỏi ngạc nhiên
về cái nhìn sắc sảo cùng những kiến giải hết sức mới mẻ trong
quá trình nhận thức những hiện tượng xã hội đương đại.
Một đặc điểm không thể không ghi nhận ở Mai Văn Phấn là khả
năng mổ xẻ tâm lý phơi bày những ý tưởng cũng như hành vi
con người. Khác với thơ truyền thống, bị những quy ước nghiêm
ngặt thuộc phạm trù mỹ học cổ điển chi phối, với thơ tân cổ
điển, tác giả có thể viết về đủ mọi lĩnh vực đến từng ngóc
ngách của đời sống, kể cả những hành vi nhếch nhác vốn được
giấu kín trong bộ nhớ. Cũng như các nhà thơ viết theo khuynh
hướng Hậu - hiện - đại, chủ trương đưa ngôn ngữ đời thường
vào thơ để thơ hòa nhập với cộng đồng, không có vùng được
coi là cấm kỵ, Mai Văn Phấn luôn tìm cách diễn đạt tác phẩm
làm sao mới mẻ nhất, tinh tế nhất, vì thế cũng ấn tượng nhất.
Điển hình là thói đạo đức giả. Minh chứng thuyết phục cho
trường hợp này là "Bài học", "Dậy trẻ con",
"Hắn", "Đến trong ý nghĩ", "Chuyện
còn dài"... "Bài học" được khai triển như là
một ca giải phẫu, phanh phui lục phủ ngũ tạng loại quan chức
"xanh vỏ đỏ lòng" với tất cả những thói tham lam,
bần tiện nhưng lại núp dưới chiếc mặt nạ "đạo mạo":
Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm
Đạo mạo múa tay trong bị
Hãy xem cách ứng xử trong sinh hoạt thường nhật cũng như
"nghệ thuật" giao tiếp
của ông ta với những người xung quanh:
Đạo mạo phát biểu chung chung
Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng
Đạo mạo lấy trộm áo mưa
Đạo mạo thở mùi hôi vào miệng người khác
Đạo mạo bọc nhầm một chiếc răng sâu
Đạo mạo tiểu tiện nơi công cộng
Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa
Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp
...
Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang
Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học
Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương
Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác
Đạo mạo đánh tráo bài thi
Đạo mạo tiêu tiền âm phủ
...
Hàng loạt dữ liệu về kẻ nói một đàng làm một nẻo xuất hiện
như phép thống kê số học. Tác giả không cần phân tích, diễn
giải, tự nó đã bao hàm kết luận về hệ quả của các hành vi
trên . Đạo mạo vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân mang tính phổ
quát khi những giá trị văn hóa bị tha hóa, lòng tin mù quáng
bị lợi dụng biến thành thứ tôn giáo "nhất thần luận".
Các bài "Hội chứng từ một tin đồn", "Cái miệng
bất tử",, "Chuyện còn dài" cũng có cách lập
tứ tương tự. "Hội chứng một tin đồn" được nhắc lại
nhiều lần mệnh đề mở đầu bằng các cụm từ "Tôi không...";
"Hãy..."; "Xin anh (chị) đừng..."; "Nhớ
không...". "Bài học" dạy toàn cách ứng
xử sơ đẳng ở trình độ vỡ lòng, nhưng thực chất không phải
để giáo huấn trẻ mẫu giáo mà đối tượng của nó chính là những
kẻ đại loại như "Đạo mạo".
"Hôm sau" là tập thơ có phong cách diễn đạt khá
đa dạng bằng ngôn ngữ thông tục nhưng giầu hình ảnh, đặc biệt
hết sức biểu cảm. Tính biểu cảm không phải ở sự bóng bảy ngôn
từ mà chủ yếu ở sự kết hợp lâm thời lớp từ vựng trung tính,
trên cơ sở ngữ cảnh cụ thể, tu sức để chúng trở thành đa nghĩa,
đa thanh. Mai Văn Phấn rất có sở trường tạo ra những "mê
cung" dẫn dụ người đọc vào trường liên tưởng như một
thứ ma trận. Ở trung tâm "bát trận đồ", tác giả
lặng lẽ điều khiển "âm binh", phát các tín hiệu
khởi động hệ thống, kéo độc giả vào trò chơi chữ nghĩa, tạo
ra hiệu ứng dây chuyền chẳng khác gì những con bài domino.
Với cách viết khá mạo hiểm này, "Biến tấu con quạ"
được xem như một thử nghiệm thành công. Nhìn một cách khái
quát, "Biến tấu con quạ", phong các siêu thực nổi
rõ hơn so với tân cổ điển. Không thể "kể lại" được
"Biến tấu con quạ" nhưng lại có thể rút ra những
triết lý mới mẻ sau mỗi lần đọc. "Biến tấu con quạ"
gồm 14 mục và 2 câu thơ dẫn. Tác giả lấy quạ, một loại động
vật hoang dã, chuyên ăn xác thối làm đối tượng phân tích,
dự báo. Quạ - sinh vật, là thực thể khách quan, có thể nhìn
thấy cùng với những thuộc tính di truyền, nhưng quạ - linh
vật, lại thuộc về không gian siêu thực đến từ miền vô thức
như là một ngẫu tượng. Con quạ "biến tấu" nên nó
vừa là biểu tượng của sức mạnh hủy diệt vừa là khởi nguồn
của một trật tự mới. Sau tiếng quạ kêu, không ít hành vi khuất
tất được phơi bày. Những gã phù thủy chơi trò lưu manh, lừa
bịp bị hình phạt móc sắt vào miệng. Trật tự xã hội quy ước
bị đảo lộn:
Thày lang đốt sách cuối vườn
Tân dược trong kho đều quá hạn sử dụng
Những phù thủy chịu hình phạt
Miệng bị đóng bởi những móc sắt
...
Con cá nhảy vào đám mây tự vẫn
Buông ngang trời ngàn vạn lưỡi câu
"Biến tấu..." còn mở đầu những tai họa khủng khiếp
sau "khai sinh" khi mà máu xuất hiện cùng với tội
ác dự cảm cho một xã hội đổ vỡ, văn hóa suy đồi, nhân cách
băng hoại:
Mực đổ dưới chân và máu
vón cục ở yết hầu, phế quản
Viết một nét lên trang đầu
Thấm suốt cả ngàn trang sách.
Không còn nghi ngờ gì nữa, sự thật, quạ chỉ là một danh xưng,
nhân danh con người (hay thượng đế) trừng phạt con người bằng
cách hành hạ xác chết theo kiểu trung cổ:
Móc từ hốc mắt
những nhãn quan
Di ảnh là vật chứng
Mổ vào lưỡi
và kéo dài
Những động tác "móc", "mổ", "bóc
từng mảng thịt", "tháo rời tứ chi", "sổ
tung lục phủ ngũ tạng"... là ẩn dụ của quá trình tìm
nguyên nhân bệnh lý của cơ thể xã hội. Mỗi một động tác của
quạ đều mang tính biểu tượng tương thích với trạng thái tâm
lý giả tưởng. Hãy gác lại những định kiến không mấy tốt đẹp
về loài dã điểu này, con người cần làm phép so sánh rồi tự
"biến tấu" xem loài người cao hơn loài quạ bao nhiêu
bậc về sự tiến hóa. Toàn bộ hành vi của quạ thông qua "biến
tấu" dường như đều theo một quy trình. Quạ chính là một
phiên bản con người khi ta nhìn chính ta dưới nhãn quan siêu
thực.
Giải pháp phân đôi, hoá giải bản thể, tìm đến nguyên nhân
hình thành dục vọng cùng tính đa dạng của những tạp niệm rồi
tích hợp thành hệ thống triết lý được Mai Văn Phấn sử dụng
như là một hình thức thậm xưng. Nhân vật "hắn",
một danh xưng phiếm chỉ thường xuất hiện với tần số cao. "Hắn"
ở khắp nơi nhưng luôn ẩn trong bóng tối và có khả năng biến
hình tùy theo hoàn cảnh và môi trường. "Bóng tối ăn thịt
bóng tối" là mệnh đề xã hội học làm lạnh gáy người đọc.
"Hắn" có khi là âm bản của đời sống, là "bãi
rác" lịch sử, là tập hợp số đông của những bộ óc hoang
tưởng, thậm chí, "Hắn" rất có thể là ông chủ tập
đoàn xuyên quốc gia bao thầu những đồ phế thải đồng thời lại
là trung tâm chế tác những ý tưởng điên loạn tầm cỡ nhân loại:
Hắn là nơi hoàn thiện:
của gương đã lành/sâu đã nở/trinh đã mất/cáp đã đứt/cống đã
thông
là bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ sinh
/ giày dép lạc mốt...
Cũng có thể "Hắn" là bóng ma của xã hội hậu hiện
đại với thứ trật tự... phi trật tự, tư duy logic... phản logic.
Núp trong bóng đêm "Hắn" thể hiện thứ sức mạnh bản
năng ngu xuẩn khi chơi trò đấm đối phương qua lỗ thủng tấm
bìa. Đó là hành vi tự kỷ ám thị hoàn toàn ngẫu hứng nhưng
chưa chắc đã mắc chứng tâm thần phân liệt cho dù đã được những
ai đó vinh danh là "nhà vô địch".
Những dòng thơ văn xuôi trong "Đến trong ý nghĩ"
cho dù gần với phong cách hậu hiện đại, thêm một lần nữa khẳng
định tính phổ quát của nhân vật "Hắn". Nhịp sống
gấp nhưng mối liên kết lỏng lẻo, luôn có xu hướng ly khai
khỏi sự ràng buộc quy ước để tìm tự do cá nhân tuyệt đối trong
một môi trường đầy bất trắc cho dù con người chẳng bao giờ
dám có ý nghĩ... nổi loạn:
Tôi đi xe hết ga hết số. Răng nghiến chặt. Tay bóp cổ
hắn. Kéo hắn lướt trên mặt đất... Đích đến là buổi lấy phiếu
tín nhiệm đề bạt, trả lời phỏng vấn, chuẩn bị phong bao một
đám hiếu, cuộc gặp gỡ một nhân vật quan trọng...
Bên cạnh mảng đề tài có khuynh hướng thần bí vốn là sản phẩm
của chủ nghĩa siêu thực như "Kể lại giấc mơ", "Nếu",
"Giả thiết cho buổi sáng hôm sau"... Mai Văn Phấn
cũng có khá nhiều bài cập nhật cuộc sống vô cùng phức tạp
thuộc dòng tân cổ điển dưới dạng bi hài kịch. "Biết thì
sống" đơn giản chỉ là chuyện "mèo mỡ" mà trung
tâm rắc rối là ông trưởng thôn sẵn máu gió trăng, chị thu
tiền điện lẳng lơ có nốt ruồi bên mắt trái và lão chủ quán
thịt chó lắm lời. Một câu chuyện muôn thuở, được diễn đạt
bằng thơ không vần, ngôn ngữ dân dã nhưng lại chêm hai câu
văn sặc mùi hành chính khiến người đọc bật cười:
"Biên bản lập thành 05 bản
Có giá trị pháp lý như nhau".
Nhưng "Biết thì sống" vẫn chưa đặc sắc bằng "Sống
hồn nhiên". Đây là một kiểu bắt chước khá khôi hài của
loại người mắc chứng hoang tưởng. Ông ta vẫy tay theo nhịp
cỏ lắc lay của gió, bắt đầu óc phải tưởng tượng ra mùa xuân,
vợ chồng thay nhau giật sợi dây buộc chỏm tóc vắt qua xà nhà,
và, hành vi cuối cùng là pha trà dâng cho cây một khi không
"cắn vỡ" được tiếng chim:
Một tiếng chim bủa lưới khắp vườn
líu lo bọc lấy tôi từng lớp kén
muốn thoát ra ngoài phải cắn vỡ tiếng chim
hàm tôi yếu và răng không còn sắc.
Những câu thơ đọc lên, mới nghe như là lời kể của một người
già lực bất tòng tâm, mặc cho số phận đưa đẩy, nhưng có vẻ
như lại hàm chứa triết lý nhân sinh dưới dạng ẩn dụ sâu thẳm
về những quy luật huyền bí đã chi phối thân phận con người
từ cả ngàn năm trước.
"Hôm sau" thực chất là bản giao hưởng với những
biến tấu đầy ngẫu hứng.
Chí Linh, 02 /12 / 2009
ĐVS.
Đào
Duy Hiệp
Cấu
trúc ngôn ngữ và hình ảnh trong tập thơ
VÀ ĐỘT NHIÊN GIÓ THỔI của Mai Văn Phấn
Mỗi bài thơ
là một lâu đài ngôn ngữ “bí mật”, mỗi
tập thơ của một nhà thơ là cấu
trúc “câu” lớn ngân vang những “bí mật”
mang dấu vết “ngữ pháp” tiếng lòng
của riêng nhà thơ trong công cuộc khám phá
bản chất của thế giới, cuộc
đời. Trong hành trình đó, lao động
thơ – cuộc phiêu lưu của ngôn ngữ
– là một cuộc du hành say mê và hứng thú
nhất, nhưng cũng “tăm tối”, khổ
nạn nhất của nhà thơ.
Nhưng,
nếu đã khó hiểu, “tăm tối” như
thế, thì thơ muốn nói gì qua các con chữ
ú ớ, mộng mị của nó? Liệu sau
khi ra khỏi bài thơ/tập thơ, người
ta có hiểu thêm về thế giới, con người?
Không ai có thể trả lời được
câu hỏi này cũng như chưa có ai định
nghĩa cho thật rốt ráo: Thơ là gì? Chính
sự lung linh, vẻ đẹp phù chú của
ngôn từ thơ đã là một khám phá ra sự
không thể khám phá của Cuộc sống,
Thế giới, Tình yêu. Bởi, Thế giới
là Vô cùng.
Mọi
bài thơ tình, như Jacobson bảo, chỉ
có một nội dung: “Anh yêu em”. Nhưng cấu
trúc ngôn ngữ, nhịp điệu, “ngữ
pháp” tiếng lòng của nhà thơ đã kiến
tạo ra những “bí mật” khác nhau để
nói lên cùng một nội dung đó. Đọc
xong tuyển tập các bài thơ tình tuyệt
mĩ của các nhà thơ thế giới, liệu
ta có khám phá ra hết mọi nhẽ của
Tình yêu? Cái “bất khả tri” trước tình
yêu, là lí do tồn tại của tình yêu. Và do
đó, của thơ.
*
Tập
thơ tình và đột nhiên gió thổi() của Mai Văn Phấn gồm
27 bài mang đến cho ta ngọn gió mơ hồ
về tồn tại đó. (Mai Văn Phấn
còn có những tập thơ khác nữa, mà gần
như “song sinh” với tập thơ đang
bàn là tập Hôm sau, nhưng nếu đưa vào xét trong cùng một
bài viết rất dễ gây cảm giác “điểm
sách”. Tôi để vào một dịp khác. Có
lẽ lúc đó sẽ đọc theo kiểu
“bổ dọc” hành trình thơ Mai Văn Phấn
thì hay hơn).
Thơ
Mai Văn Phấn mang định hướng
thực nghiệm, thể hiện trách nhiệm,
ý thức lao động nghệ thuật rất
rõ. Có thể có người cho là “khô khan”, khó
hiểu cũng được. Nhưng “đọc”
ra được một phần nào sự
khó hiểu đó của thơ, có nghĩa là
ta đã đồng hành, đồng điệu
cùng nhà thơ trên hành trình khám phá. Thơ là sự
bộc bạch chiêm nghiệm, là bản “photo”
chính xác nhất của tâm hồn người
làm thơ. Đi vào thế giới thơ Mai
Văn Phấn không thể giục giã, cũng
không thể lười ngồi chờ những
xúc cảm, những rung động dễ dãi
vốn gắn với cách gieo vần réo rắt,
du dương, hình ảnh, liên tưởng
dễ lĩnh hội đã thành quán tính ở
nhiều người đọc chúng ta. Thơ
hiện đại ít phổ cập đến
công chúng rộng rãi cũng một phần ở
chỗ đó: giữa độc giả thơ
hôm nay với văn bản thơ dường
như chỉ còn một mối liên hệ “mệt
mỏi” – nghĩa là độc giả cũng
phải đồng hành cùng nhà thơ, sáng tạo
cùng anh ta.
Thơ
đương đại ở phương
Tây, như tôi biết, vẫn gắn với
hai khuyh hướng chính: vệt thơ siêu
thực từ những năm 20 của thế
kỉ trước (tất nhiên, đã được
rẽ ra nhiều ngả thử nghiệm mới)
và thơ tân-trữ
tình thuộc về thường nhật
(néo-lyrisme quotidien): loại thơ văn xuôi
mà ở đó nhà thơ lắng lại, ẩn
mình vào trong lạc thú của cái đời
thường, hằng ngày để nói lên những
suy tư triết học và siêu hình về cuộc
sống vừa trần trụi vừa ảo
mộng. Có lẽ thơ Mai Văn Phấn thuộc
hai dạng này. Tôi tìm hiểu tập thơ
và đột
nhiên gió thổi ở hai cấp độ:
1. ngôn ngữ thơ; 2. hình ảnh thơ siêu
thực.
1. Ai cũng
biết làm thơ là nói cái rung động của
tâm hồn mình bằng ngôn ngữ đẹp,
hay. Nhà thơ nói thơ trước hết
là nói cái đẹp của ngôn ngữ: anh ta
yêu tiếng nói của chính mình, luôn có ý thức
làm đẹp ngôn ngữ của riêng mình. Cái
bất cập và “đau thương”, buốt
nghẹn làm nên bi kịch muôn đời của
nhà thơ chính là cùng một sự vật, cùng
một “con bài bắt buộc” (F. de Saussure)
– tức ngôn ngữ của cha ông, tổ tiên
để lại – anh ta phải “gọi tên”
nó một cách khác. Đó là bi kịch của
nhà thơ. Nó đòi hỏi anh ta phải có tài,
nhưng nhất là phải lao động ngôn
từ để tạo nên bút pháp, “thương
hiệu” riêng. Nhiều người làm thơ
nhưng không phải ai cũng là nhà thơ.
Vương quốc của thơ không dung chứa
quyền uy gia trưởng. Vương quốc
Thơ tôn vinh chỉ người đẹp
hoàn vũ chưa qua giải phẫu thẩm
mĩ. Cái đẹp thật là trên hết.
Mọi sự “be bờ đắp đập”
(đạo văn) ở đây đều
không được chấp nhận. Ngay cả
cái đẹp “hoang dại”: một bông hoa mong
manh bên dòng suối, một tia nắng muộn
trên phiến đá rêu phong, một tiếng
còi tàu trong đêm khuya vắng,... cũng có thể
là thơ hay nếu nhà thơ “đánh thức”
được nhiều người bằng
ngôn ngữ thơ của riêng mình.
Đứng
trước những “thực tại” nguyên
lai đó, con mắt và tâm hồn của nhà
thơ rung động, nhưng đưa cái
rung động đó vào để thành thơ
thì không phải ai cũng giống ai. Lí thuyết
liên văn bản cho ta biết rằng mọi
văn bản nghệ thuật ngôn từ mới
xuất hiện đều đã có một
văn bản được được
viết ra từ trước đó. Nói thế
không có nghĩa là người sau “copy” hay “đạo”
văn của người đi trước.
Nguyễn Du đã viết “đè” một cô
Kiều Việt lục bát lên một cô Kiều
Tàu văn xuôi bằng ngôn ngữ của riêng
ông.
Nhưng
khi nhà thơ viết đè một “phương
ngữ” của cá nhân lên bản ngữ của
cộng đồng thì anh ta đã lấy ngôn
ngữ làm đối tượng thẩm mĩ:
mỗi từ ngữ viết ra có một “bí
mật” riêng xuất phát từ cõi lòng, tâm linh,
vốn văn hóa, sự trải nghiệm,
cái vô thức,… của nhà thơ. Lấy ngôn
ngữ làm đối tượng trước
hết và trên hết, nhà thơ nói để
được “cái thú nghe lời mình nói”. Trong
trò chơi ngôn ngữ đó, văn bản thơ
không còn cho một nghĩa cố định,
duy nhất đúng, mà còn có những nghĩa
“tự sinh” trong quá trình đọc. Tôi hình dung
rằng, nếu từ ngữ theo nghĩa từ
điển là hình vuông, (“trăng” là trăng,
“mưa” là mưa,…), vuông thành sắc cạnh;
thì cũng những từ đó, trong thơ,
chúng là hình tròn, mà chứa trong nó là hình vuông của
nghĩa từ điển. Phần dư thừa
của hình tròn đã mang nét nghĩa khác do được
cộng sinh từ trường từ vựng,
âm hưởng, giọng điệu, tiết
tấu,… của bài thơ. (Thơ thực dụng,
thơ tuyên truyền hoặc thơ rao hàng thì
chỉ có một nghĩa, tạm gọi là
“thơ vuông”).
*
Trong
27 bài của tập thơ, tôi phát hiện thấy
động từ “mở” xuất hiện
khá nhiều và chủ yếu ở thể chủ
động. Những phân tích dưới đây
phần nào tìm hiểu cái ý nghĩa ẩn sâu,
cộng sinh của chúng trong sáng tạo của
nhà thơ (tôi gạch chân):
“Giọng
em không vượt qua mà làm cho chúng bé lại,
mở
thông những cánh
cửa sang nhau. / Anh nghe em nhờ rễ sâu
mở những vỉa tầng linh thiêng
trong đất ấm” (Nghe em qua
điện thoại): “Giọng…
mở
thông những cánh
cửa” là âm thanh làm “mở” không gian.
“Mỗi
cơ thể con người mở ra
nhiều con mắt lạ,…. Nhắm mắt
thấy em không rộn ràng như khi mở
mắt” (Nhắm
mắt): “mở” câu trên là khai thông thị
giác tâm linh; còn “mở” câu sau “vuông” nghĩa.
“Tờ
lịch trên tường đang tự mở
sang ngày” / “Bát canh
nóng mở cửa phòng chật hẹp”
(Mưa
trong đất): “tự mở
sang ngày”: hành động
“tự mở” trỏ sự trôi chảy khách
quan, vô tình của thời gian; còn ở câu sau
là tác động của cái thường ngày,
cụ thể, hướng ra thế giới.
“Miệng
em hé lộ khu vườn yên tĩnh.”
/ “Trán em mở cánh đồng hoa vàng bất
tận.” (Mưa trong đất):
câu trên cho hình ảnh lạ, siêu thực, theo
nguyên lí đặt cạnh nhau những vật
thể xa nhau làm bật ra một thực tại
mới, thường gây sửng sốt: “miệng
em” = “khu vườn yên tĩnh”. Hình ảnh
đẹp mà hữu lí trong chiều sâu xa của
dục tính, bản năng. Giống câu: “Môi
em mở
những đồng
cỏ xa xưa mướt xanh trong cơn mưa
buổi sớm, nối liền bầu trời
với mặt đất rộng.” hoặc
“Trán em mở cánh đồng hoa vàng bất
tận.”.
“Buổi
sáng vào bàn làm việc. Mở
sổ ghi những
việc cần làm” / “Lồng vào nhau từng
khuôn mặt / Lời vô nghĩa mở
ra tưởng
tượng” (Anh anh em
em) thì “mở” ở câu đầu
“vuông”; câu sau là sự mơ hồ của ngôn
ngữ và của thơ.
Đặc
biệt, trong bài Những bông hoa mùa
thu,
số lượng từ “mở” khá đông
đúc: “Gió thổi dạt chú chim sâu vào bờ
bụi, mở
tung chiếc áo
anh mang thành một cánh buồm” / “Em ken vào anh
mịn màng cỏ mọc / giàn hoa leo vươn
tay quấn quýt / giục đại dương
mở
miệng sông hồ”
/ “Computer mở
trên mặt bàn
rộng” / “Chỉ chiếc cặp em mang là
hoàn toàn có thực. / Đến lúc nào em sẽ
mở
ra?” / “Môi em mở
những đồng
cỏ xa xưa mướt xanh trong cơn mưa
buổi sớm, nối liền bầu trời
với mặt đất rộng.”; “Khi bờ
sông mở
ra bất tận
/ từng đám lục bình nương lũ
trôi về che kín mặt sông” (Những bông hoa mùa
thu).
Hay
ở một vài bài khác: “Lan nhanh, choáng ngợp
đất hoang vừa mở” (Bài hát mùa màng); “Nơi
đất trời gặp nhau / Mở
những lạch nguồn tìm về biển
cả.” (Giáng
sinh); “Anh lặng yên nghe ngực
mình / Rộng mở…” (Khai
bút cùng cỏ); “chân tường mở
cánh cửa
thoát hiểm” (Để nhận ra anh);
Ta
nhận thấy trong đó, có mấy trường
hợp nghĩa “vuông”, như: “mở mắt”;
“mở
sổ ghi”; “mở
những lạch nguồn”; “mở
tung chiếc áo”;
“em sẽ mở
ra”, nhưng cũng
không hoàn toàn tuyệt đối. Bên cạnh
đó, còn có từ đồng vị “hé lộ”…
đó là những “mở” vào siêu thực.
Trên
đây, “mở” đã không còn mang nghĩa thường
ngày nữa, mặc dù ngược với nó
vẫn là “đóng”. Song, nếu ta thử “lắp”
nghĩa ngược đó vào trong những
trường hợp trên, thì sẽ thấy
không còn “hữu lí” siêu thực nữa. Các động
từ “mở” chủ động ở đây
phần nào cho thấy tính tích cực, chủ
động của chính nhà thơ: “Ta khai mở,
tôn vinh nhau. Thành ngọn nến, nước
sạch. Thành hoa tươi, hương thơm
tế lễ tổ tông.” (Mưa
trong đất).
Bên
cạnh đó, các từ “mưa”, “nước”
- một trong những nguyên tố tạo lập
nên vũ trụ - cũng xuất hiện khá
dày đặc trong tập thơ - đặc
trưng “âm tính” trong thơ Mai Văn Phấn.
Nếu có điều kiện phân tích cấu
trúc các hình ảnh mà chúng xuất hiện thì
chắc chắn sẽ phát hiện ra các vỉa
tầng tâm linh sâu xa trong tâm thức sáng tạo
của nhà thơ. Mai Văn Phấn “tuyên ngôn”
thơ: “Không, ta vẫn còn giọng nói. Mỗi
âm tiết lúc ấy hiện lên một sự
thật. Sự thật hiển nhiên đảo
lộn mọi quy ước phổ thông.” (Anh anh em em...). Sáng tạo ngôn từ
gắn với sáng tạo hình ảnh thơ
để làm “đảo lộn mọi quy
ước phổ thông.”, tức là bẻ gãy
thói quen quán tính trong cách nhìn và cách nghĩ về
sự vật. Khi đã định làm như
thế và tâm niệm như thế, nhà thơ
đương nhiên không thể chịu được
lối mòn. Và anh ta phải lao động ngôn
từ, phải lao động hình ảnh thơ.
2. Như
vừa nói, hình ảnh trong thơ Mai Văn
Phấn, (đa số là thơ văn xuôi),
hầu hết đều là siêu thực, mộng
mị, nhưng đọc kĩ ta vẫn thấy
chúng bám rất chắc trên cái nền luận
lí, hữu thức. Điều đó cho thấy
ý thức lao động thường trực
của nhà thơ mong “khám phá” ra thế giới,
cái phần chưa được tri giác của
cuộc đời.
Thử
tìm hiểu một vài kiểu hình ảnh trong
thơ anh: “Anh nghe em nhờ rễ sâu mở
những vỉa tầng linh thiêng trong đất
ấm, con sông chảy vào quang gánh, làng mạc
phồn sinh tháp dựng, cánh đồng tươi
tốt trên xe cộ...”
(Nghe em qua điện thoại)
Do
sự câu thúc của “rễ sâu” mà gọi ra
phần đất đai linh thiêng ở vế
sau; nhưng “rễ sâu” không vì thế mà không
gợi hình ảnh sợi dây điện thoại
cũng như tình cảm “sâu rễ” (có thể)
rối rít của hai người yêu nhau. Câu
thơ đã “mở” ra nhiều chiều tâm
tư, suy tưởng và cả những liên
tưởng thú vị. Câu “con sông chảy vào
quang gánh, làng mạc phồn sinh tháp dựng,
cánh đồng tươi tốt trên xe cộ...”
có ba vế ứng với ba không gian “con sông”,
“làng mạc”, “cánh đồng”. Nhưng
chúng không còn “hiền lành” như ta vẫn hình
dung xưa nay. Cả ba “vật thể” trên
đều “quái gở” xét theo logic thông thường.
Đứng trước “con sông chảy vào
quang gánh” ta thấy lạ mà buồn, có cái
gì đó hưu quạnh; đến “làng mạc
phồn sinh tháp dựng” đã tấp nập,
sang “cánh đồng tươi tốt trên
xe cộ…” thì hình ảnh “ngược ngạo”,
“quái đản”. Kí hiệu “cánh đồng”
ở đây (không rõ có xa với chủ định
sáng tạo của nhà thơ không?) khiến
người đọc liên hệ đến
ẩn dụ về sản vật, sự thu
hoạch, vui tươi đã được
diễn đạt bằng hình ảnh thơ,
đẹp, lạ, và có chiều sâu suy tưởng.
Nói về cấu trúc, vẫn ở bài thơ
này, “tiếng em” được ví ở đầu
bài là:
“Một giọt nước
vừa tan
Một mầm cây bật dậy
Một quả chín vừa buông
Một con suối vừa chảy...”
thì ở cuối
bài sẽ được “dội” lại đăng
đối:
“Chỉ còn gợn
sóng lan xa
Chỉ còn tan trong diệp lục
Chỉ còn thoảng bay dịu ngọt
Chỉ còn bờ đá lung lay...”
Tất
cả “chỉ còn” lại những “linh hồn”
từ “xác” của các sự vật bên trên sau
khi nghe em qua điện thoại
dẫu
tất cả đều chỉ là tưởng
thượng. Âm
thanh, giọng nói của “em” đã chồng
chất những không gian, thời gian thành những
hình ảnh lần lượt trôi qua trong ý
thức của chủ thể trữ tình. Thơ,
như Octavio Paz nói, là nghệ thuật của
thời gian. Nhưng, cũng là nghệ thuật
của không gian, trong đó có không gian văn
hóa, không gian tâm linh, kinh nghiệm, không gian trải
nghiệm của nhà thơ.
Một hình ảnh khác: “Vệt môi anh là con chim gõ kiến trên cây cổ
thụ. Chiếc mỏ tí hon làm cây rừng
thay lá, thân gỗ mục hồi sinh. Những
tán xanh trùm lấp, rì rầm, vươn thẳng.
Nhắm mắt anh nghe trong thân cây biết mặt
trời đã mọc, những sóng từ phát
sinh cơn địa chấn, và ngôi sao lơ
đãng đổi ngôi. Thời tiết bốn
mùa làm phồn sinh bản năng loài chim gõ kiến.
Ngước lên cao. Lại cúi xuống thân cây
thành tâm tụng niệm:
Tạ
ơn mưa nguồn, chớp sáng, mây qua...
Tạ
ơn sương sớm, đất đai,
đêm tối... ”
(Mưa trong đất)
Thơ văn xuôi nhưng vẫn
có nhịp điệu do cấu trúc các câu và
hình ảnh: từ thấp lên cao dần đến
“mặt trời đã mọc”, “ngôi sao lơ
đãng đổi ngôi”, sau đó lại trở
về với mặt đất. Cả đoạn
thơ và các hình ảnh được cấu
trúc một cách có ý thức, ngập tràn thiên
nhiên tươi sáng đan xen lời in nghiêng
như kinh cầu nguyện. Đây là một
hình ảnh tạm coi là dễ hiểu nhất
trong thơ Mai Văn Phấn.
Dưới
đây là những hình ảnh siêu thực về
tình yêu mà tôi thấy rất thú vị:
“Làm vòm cây tái tạo nên anh
Tóc em bóng râm cội rễ
Thân cây cao vút thẳng đứng
muốn bứt lên
trong chênh lệch những miền áp thấp
trong lay giật
muốn bứt lên trong hơi nóng cơ thể
đẩy từ lòng đất
từ cốt tủy ngủ sâu tụ khí
phù trợ những sinh linh
Gạn từ em
được chiết từ em
anh hiện hữu
và không hiện hữu.”
“Tóc em bóng
râm cội rễ” đã lạ nhưng chưa
ám ảnh, bắt đầu từ câu sau nó
trở đi cho đến cuối đoạn
là ám ảnh tính dục, hiện sinh, giật
khục, “lay giật”, là sự sống được
nói bằng thơ ở phần sâu xa nhất:
Adam được sinh ra thêm một lần
sau Chúa.
Những hình ảnh khác cũng
“vô lí” như thế: “Anh lặng yên nghe ngực
mình / Rộng mở… / Thành quả chuông run lên
trong mưa / Gặp đèn trời khói bay, gió
lạnh” (Khai bút cùng cỏ); “Muôn pháp là một, một đi
về đâu. Ẩn hiện không gian một
chiếc bình lớn. Ai đang về giữa
hạt sương trong. Tiếng sấm sâu
hút. Cánh hoa mong manh vươn tự do…” (Mưa
trong đất); “Những ngôi sao đen
trong lòng chảo ngực / anh rối bời
nổ lách tách” (Những
tiếng nổ nhỏ); hoặc “Gần
em nghe trăng lên / ngồi trong quả chuông
ánh sáng” (Những
bông hoa mùa thu), v.v.
3. Lời kết: Với thơ,
mỗi người có một cách tiếp cận
vẻ đẹp, chiều sâu ý nghĩa, triết
lí. Và không thể coi cách tiếp cận nào là
độc sáng, triệt để. Những
dòng viết bên trên chỉ coi là những “Lời
quê góp nhặt dông dài” vào những sáng tạo
rất khổ công, vất vả, song đầy
hứng thú của nhà thơ.
Ngôn ngữ
và hình ảnh thơ Mai Văn Phấn còn có
thể viết nhiều hơn nữa, đào
bới sâu hơn nữa mà ở đây, tôi
nghĩ, mới chỉ là những gợi mở
bước đầu. Ngôn ngữ thơ anh
mang hồn cốt, phong cách rất riêng: hình
như lặng lẽ mà quẫy cựa, khám
phá với những tâm tình đôn hậu, sâu
lắng. Hình ảnh lạ, đẹp từ
những lao động ngôn ngữ đó mà
thành. Trong cấu trúc của chúng, những hình
ảnh của thơ anh thường chồng
chất, xâm lấn, “đột kích” lẫn
nhau giữa những không gian, thời gian thơ
vô tận.
Thơ là
tiếng nói của Vô cùng. Không ai, kể cả
nhà thơ, có thể gọi ra hết ý nghĩa
của chính thơ mình. Càng ngày tôi càng thấy
thơ là loại hình nghệ thuật mang tính
triết học thâm thúy nhất về Đời
sống, Tình yêu, Con người, về Lao động
và Yêu thương.
Cả về
nỗi Cô đơn buồn bã và thẳm sâu
trong mỗi chúng ta.
Hànội,
tháng 9 – 12 năm 2009
ĐDH.
Phan Triều Dương
Hôm
sau - dù có bao giờ
Hôm sau - dù có bao giờ… Câu thơ còn mất tình thơ vẫn còn. Đọc tập thơ “Hôm sau” do
Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất
bản năm qua, tôi cảm được
niềm mong mỏi đó của Mai Văn Phấn.
Thơ Mai Văn Phấn dài, vần ít, nhạc
điệu cũng không nhiều, hình ảnh
cũng là những hình ảnh bình dị của
đời sống thường nhật, thi
thoảng chúng ta mới bắt gặp đôi
nét liên tưởng khá thú vị kiểu: Con
cá nhảy vào đám mây tự vẫn/ Buông ngang
trời ngàn vạn lưỡi câu (Biến
tấu con quạ).
Tóm lại, đây là dạng thơ
không dễ nhớ, dễ thuộc nhưng
không dễ đi vào… quên lãng. Bởi ẩn
chứa trong những câu thơ có dáng vẻ
bề ngoài thô nháp, xù xì (và có phần ngỗ
nghĩnh) ấy là những suy tưởng,
chiêm nghiệm khá sâu sắc về “một kiếp
con người” được tác giả đúc
kết bằng kinh nghiệm bản thân qua
mấy chục năm tháng sống “giữ
hộ ký ức” cho người khác, đặc
biệt là ở những dự cảm về
thời gian. Không có dự cảm mạnh về thời
gian, không bị ám ảnh bởi cảm giác
đời người như bóng câu qua cửa,
chớp mắt đã trăm năm Mai Văn
Phấn khó viết nên những câu thơ gợi
nên cái hư thực, mong manh, phù du của kiếp
người như thế này: Pha xong ấm
trà/ Quay ra/ Ông khách không còn ở đó/ Gọi
điện thoại/ Người nhà bảo
ông mất đã bảy năm/ Nhầm lẫn.
(Vẫn trấn tĩnh tiễn
khách ra ngõ).
Dự cảm ấy xuyên xuốt
gần ba chục bài thơ trong tập “Hôm
sau”. Ở mỗi bài dự cảm
ấy, ám ảnh ấy lại được
soi rọi dưới nhiều góc độ,
nhiều hình thức khác nhau, tạo nên những
cảm xúc, những trải nghiệm đa
chiều, đa góc cạnh thể hiện tư
duy sâu, thấu đáo của tác giả về
một vấn đề lớn của nhân
loại. Hôm sau đáng đọc theo
tôi là vì lẽ đó.
PTD.
ĐÃ
ĐĂNG: Báo Đất Việt
Nguyễn Thánh Ngã
(Tạp bút)
MỘT
GIỌT NƯỚC MỘT MẦM CÂY
Một
giọt nước vừa tan
Một mầm cây
bật dậy
Tôi chọn
hai câu này trong bài thơ “Nghe
Em Qua Điện thoại” của nhà thơ
Mai Văn Phấn. Tập thơ "Và đột
nhiên gió thổi – NXB Văn học 2009" đã
thổi thấu lòng tôi với những gì u
lệ nhất của thơ. Không cần
quảng cáo vớ vẩn, thơ Mai Văn
Phấn mặc nhiên găm vào thời đại
chúng ta. Trắc trở và mạnh
mẽ. Sâu thẳm và bật
thức bao người. Dĩ nhiên là thơ
không dễ đọc, nhưng tôi tin trái tim
Mai Văn Phấn ở đấy, trong tất
cả những gì anh viết. Một trái tim
yêu thương và trong sáng!
Bởi được
trích ra nên tôi không hiểu theo văn bản thơ. Sẽ
là có lỗi chăng? Không,
vẫn còn đấy cốt lõi thơ tròn đầy.
Vì thế tôi sẽ không làm mất thơ của
Mai Văn Phấn. Tôi yêu hai câu thơ tuyệt đẹp
này, đơn giản vì nó là nguồn sống
của trái đất, ngôi nhà chung
của chúng ta. Vâng, một giọt
nước mà thấy cả đại dương,
một mầm non mà thấy cả đại ngàn.
Hai câu thơ như lời
kinh Bát Nhã mở ra nguồn mạch của
muôn loài. Biên độ bình
yên của Tâm chợt vô lượng đưa
ta tiến sâu vào bản chất vũ trụ.
Nếu trong Tâm Kinh nói về tính
Không, thì đây là tính Hữu. Có giọt nước là có tất cả.
Một mầm cây bật dậy,
cả quả đất xanh thẳm, sống
động bởi cuộc sống sẽ
sinh sôi. Đây là tứ thơ duy nhất,
dung chứa trọn
vẹn nội dung một cách hoàn mỹ mà lại
vô cùng giản dị và trong sáng nhất!
Hiện nay, qua
các phương tiện thông tin chúng ta biết
quả đất đang bị phá hoại
bởi sự vô ý thức của con người,
thì một lời cảnh báo là vô cùng quan trọng.
Nhưng cảnh báo chỉ là cảnh báo, hằng
ngày những cánh rừng bay mất, những
loài chim tuyệt chủng. Quả đất
như người mẹ hào phóng đã trở
nên nghèo đi vì sự vơ
vét của lũ con. Chúng ta vô cùng đau xót và
lo lắng vì những dự báo quả đất
nóng lên, băng tan, nhiều vùng bị ngập
lụt, tài nguyên cạn kiệt! Sẽ ra sao
nếu con người cứ tiếp tục
chìm trong tham dục mà quên để
"đức hậu" lại cho con cháu
mai sau!?
Theo tôi, biểu
tượng "giọt nước và mầm
cây " là
biểu tượng đẹp nhất và có
ý thức nhất trong thơ Mai Văn Phấn.
Bởi sự xuất hiện của nước
trên các hành tinh như sao Hỏa, sao
Kim đồng nghĩa với sự sống
và niềm hy vọng về một thế giới
hòa bình ấm no và hạnh phúc.
Nói về giọt
nước thì nhiều, nhưng tôi nhớ
nhất là truyền thuyết về cái chén
Khổng Tử. Tương truyền khi
Khổng Khâu đi ngang qua sa mạc, trong lần
khát suýt chết thì có một ông lão hiện ra
tặng cho Ngài cái chén múc nước. Nhưng
kỳ lạ thay, cái chén được chế
tác thế nào mà múc nước đấy quá
hoặc ít quá thì tự chảy không còn một
giọt mà múc vừa đủ thì còn.
Có lẽ từ hàm ý này mà Khổng Tử lập
nên đạo trung dung chăng? Có hay không có
giọt nước đã lập nên đạo
của cuộc sống? Chuyện khác của
Đức Phật, Ngài có nói rằng: "Trong
một giọt nước có vô số sinh vật".
Lúc nhỏ được nhiều người giải
thích, Phật vì chứng Thiên nhãn thông nên Ngài
nhìn thấy như chiếc kính hiển vi vậy,
trong giọt nước có rất nhiều
vi khuẩn. Ở thời Ngài tại thế, câu này có vẻ khó
tin được. Nhưng
câu nói của Đức Phật hàm chứa
một nhãn quan về đời sống thực
mà nước đem lại. Những
dẫn chứng này nói
lên vị trí quan trọng của giọt
nước đối với đời sống
con người cả tinh thần lẫn vật
chất, cả vật lý và tâm lý v.v... Vì
vô minh, tức những tham sân si che lấp chúng
ta đã xâm hại nguồn nước.
Hiện nay trên thế giới có hơn một
nửa số người có nguy cơ không
có nước sạch hoặc mất nguồn
nước sạch do ô nhiễm môi trường.
Thế kỷ 21 được mệnh danh
là thế kỷ di trú một phần cũng
do ô nhiễm môi trường, nguồn nước
cạn kiệt. Ở Việt
Nam vấn
đề môi trường và ô nhiễm nguồn
nước đang trở nên cấp thiết
hơn bao giờ hết. Con sông Thị
Vải và nhiều con sông khác đã được
báo chí cảnh báo và phanh phui là một minh chứng
cho điều này. Để được
"một mầm cây bật dậy" chúng
ta phải làm gì, trong hành động của
mỗi người, một đứa con của
đất Mẹ bao dung? Nếu Trung Quốc ngăn dòng Mê-kong chúng ta sẽ
ra sao? Trong khi đó vì thiếu hiểu
biết chúng ta đã xả nước thải giết
chết nhiều con sông vừa thơ mộng
vừa đem lại nguồn lợi dồi
dào cho bao con người bé nhỏ. Chúng ta tiếp
tục khoan vào lòng Mẹ 100, 200 mét một cách
"vô tư" để thỏa mãn cuộc
sống yếu hèn ích kỷ của chúng ta.
Rồi mai sau con cháu chúng ta nghĩ sao, nếu
gia tài mà tiền nhân để lại là một
gánh nặng về lũ
lụt, đói khát?!
Tôi nhớ một
cảnh nao lòng khi còn làm phóng viên cho một tờ
báo nọ, một người mẹ K'ho đứng
trước cánh rừng cháy rụi mà nơi
đó, hôm qua bà đã hái nấm, hái rau, và
trái cây rừng từ trong ấy. Những giọt
nước mắt lăn dài trên hai gò má tàn tro là một viễn
cảnh đau buồn mà tôi từng chứng
kiến...
Lâm Đồng, ngày tết Canh Dần
NTN.
Nguyễn
Thanh Tâm
Động
hình của tư duy và mĩ cảm trong tập
thơ Hôm sau của Mai Văn Phấn
1.
Đọc thơ Mai Văn Phấn cần khá nhiều
thời gian và tâm sức. Đó
là ấn tượng đầu tiên khi tiếp
cận hai tập thơ “và đột nhiên
gió thổi” (Nxb Văn học, 2009), “Hôm
sau” (Nxb Hội nhà văn, 2009) của anh.
Cảm nhận có một nguồn
động năng mới mẻ trong thơ
Mai Văn Phấn mà chưa thể tường
giải cứ ám ảnh không nguôi. Gần
một năm trôi qua, hôm nay tôi mới có thể
nói đôi chút về tập “Hôm sau” của
anh từ khía cạnh vận động của
tư duy và mĩ cảm.
2.
Vật lý học hiện đại với những
thành tựu to lớn về cơ học lượng
tử đã nêu lên tính bất định của
vũ trụ. Quan niệm này sẽ làm
cho người quan sát trở thành một phần
của hiện thực được tri nhận.
Cụ thể hơn là "người quan
sát... tham dự vào hiện thực được
quan sát" (Đạt Lai Lạt Ma). Không thể
nói là hiện thực khách quan khi hiện thực
đó được mô tả bởi sự
tri giác của con người. Điều
đó có ý nghĩa quan trọng đối với
việc đánh giá khía cạnh hiện thực
trong tác phẩm văn học. Hiện
thực là sản phẩm mang đậm dấu
ấn chủ quan của chủ thể sáng
tạo bởi những tác nhân chi phối từ
tâm tính, thị hiếu, văn hoá, dân tộc,
thời đại mà người đó sinh
tồn, thụ hưởng. Trở
lại với tập thơ “Hôm sau” của
Mai Văn Phấn, ta bắt gặp một
cái nhìn mới về hiện thực, con người
và nghệ thuật. Có lẽ đó là điều làm nên nguồn động
năng đầy ám ảnh trong thơ anh.
Nguồn động năng ấy
chi phối, quán xuyến tư duy nghệ thuật
và mĩ cảm tạo nên khí hậu riêng của
tập thơ.
Cuộc
sống hiện lên phong phú, sinh động,
phồn tạp như vốn có trong thơ
Mai Văn Phấn. Như một nhà quay phim
kĩ tính nhưng tham lam, Mai Văn Phấn
thu vào ống kính của mình những sắp
đặt ngẫu nhiên của tạo hoá, để
nó tự nói lên thông điệp về tính thậm
phồn, bất định, bất toàn của
vũ trụ. Dụng công của tác giả nhiều nhất có
lẽ là những bận lòng đầy tỉ
mỉ, những chăm chú khổ tâm để
tri nhận thể tính của hiện thực
như nó vẫn đang hiện tồn.
Một hiện thực “Không thể tin”
nhưng có thẩm quyền tồn tại,
nó cất lời chối từ những giới
hạn của khả năng, để biểu
đạt tính đa khả thể của
cuộc sống:
Nhưng
hình như
Mọi
con vật trong nhà
Vẫn
chế tác từ đồ phế thải:
Con
mèo tam thể được sinh ra từ mớ giẻ
rách?
Cá bơi trong bể được gò hàn từ
vỏ lon beer?
Chim hoạ mi hót trong lồng là chiếc ấm
vỡ?
(Không
thể tin)
Như một lời phản biện với quan
niệm thông thường, những hình dung
mới làm thay đổi ý niệm về những
cái mặc định. Sự thống
ngự của chủ thể quan sát hiện
lên ở đây để thách thức và đòi
thay đổi. Tại sao lại
gọi đấy là “chim hoạ mi” mà
không phải là “chiếc ấm vỡ?”
Ngôn ngữ mang tính võ đoán, nên cách gọi
tên chỉ thuần tuý là ý niệm tương
đối do con người áp đặt.
Đọc hết bài thơ này của Mai Văn
Phấn, con người hoàn toàn có thể tự
đặt cho mình câu hỏi để tiếp
nối bài thơ!
Xuyên suốt tập thơ “Hôm sau” của Mai
Văn Phấn, là chuỗi những mảnh
ghép phi lô gíc của hiện thực. Nói
phi lô gíc nghĩa là chúng ta đang bị chi phối
bởi lô gíc của quan niệm, của sự
áp đặt. Chính xác hơn đó là một lô gíc mới, nó không
đáng bị khinh khi, bị chối bỏ.
Sự quan liêu của những trật tự đã
tồn tại làm con người mất đi
khả năng kiến tạo những "cú
mới" (JF. Lyotard).
Đồng nghĩa với điều đó
là con người cũ kĩ, tha hoá dần
đi trong thể tính đã khuôn rỗng: Đêm
tỉnh dậy. Đồ gỗ trong phòng mọc
tua tủa nấm nhĩ.
Bức tường chảy xệ
xuống thành nắm đất nhão. Chiếc
quạt mở ra lần cuối rồi khép
lại làm ống tre (Quay
theo mái nhà). Con người
không thể lại nằm xuống và tiếp
tục cơn ngủ của mình. Nấm nhĩ
mọc trong đầu, tâm hồn chảy xệ,
biến chất và lại giống trong guồng
quay hỗn độn của đồ vật.
Sự chân thực của huyễn
tưởng đã nói lên thân phận của
con người trong sinh môi ngày càng khắc nghiệt,
quay cuồng bất trắc. Tác giả
sử dụng huyễn tưởng và giấc
mơ để biểu đạt những
u uất của sự sống mà con người
đang từng ngày bôn trải.
Trong tập thơ này của Mai Văn Phấn,
niềm bi quan về thân phận của cái tôi cá thể
hiện lên khá rõ. Cái tôi hoàn toàn mất
đi bản lĩnh tự tôn đã tốn nhiều tâm
sức mới giành được sau hàng chục thế
kỉ bị khuất phục bởi vương quyền,
thần quyền, bởi ý chí của đoàn thể.
Nó ngạo nghễ, trịnh trọng tôn xưng suốt
một thời Thơ mới, để
giờ đây hoang mang hoài nghi chính bản thân mình. Vẫn còn day dứt trong thơ Mai Văn Phấn
cuộc giao tranh giữa con người cá nhân cá thể
với con người chức phận xã hội.
Sự xung đột của "cái tôi", "cái siêu
tôi" và "cái ấy" (lý luận nhân cách của S.
Freud) làm con người mệt mỏi, rũ
rượi, muốn chết, muốn bóp cổ mình
để hoá giải, chấm dứt sự giao tranh. Trong cuộc đối đầu ấy, "cái
tôi" khát khao hướng tới một sự sống
toàn nguyên, trọn vẹn nhưng không nắm chắc
rằng mình sẽ sống sót. Dù sao, còn giao tranh
nghĩa là còn có cảm giác mình đang sống: Tôi đi
hết ga hết số. Răng nghiến
chặt. Tay bóp cổ hắn. Kéo hắn lướt trên
mặt đất... Đích đến cuối cùng là
buổi lấy phiếu tín nhiệm đề bạt,
trả lời phỏng vấn, chuẩn bị phong bao
một đám hiếu, cuộc gặp gỡ một nhân
vật quan trọng... (Đến trong ý nghĩ). Tự
ngã và tha nhân đều bị soi xét bằng cái nhìn hoài nghi
của chủ thể. "Cái tôi" uất ức vì
bị cưỡng chế, "cái siêu tôi" bị
giễu nhại bởi sự ngấm ngầm cựa
quậy của "cái ấy" làm nên bị kịch
hiện tồn của con người:
Đạo
mạo nghe trộm điện thoại
Đạo
mạo nhìn ngực chị em trong đám tang
Đạo
mạo ký tên vào công trình khoa học
Đạo
mạo làm thơ tình khi đã liệt dương
(Bài học)
Thức cảm về sự tha hoá không phải là
xa lạ trong văn học thế giới
và Việt Nam. Đó
là sản phẩm của tình trạng con người
bất lực, buông xuôi trước cám dỗ
và sức mạnh cưỡng chế của
điều kiện sinh tồn (Chỉ là
giấc mơ, Biết thì sống,
Chuyện còn dài, Nếu,...).
Con người biết rõ mình đang từng
ngày bị cuộc sống nuốt chửng
mà không sao cưỡng lại được.
Trong tập thơ này của Mai
Văn Phấn, ám ảnh về cái chết
hiện lên khá rõ. Bầu tử khí vẩn
theo bóng quạ, xuyên qua màn đêm, reo rắc
niềm kinh hãi lên sự yếu đuối
đã kiệt quệ đức tin của
con người:
Đừng
đến gần bóng râm
Chúng
là con quạ
Xoã
cánh lúc hoàng hôn, rạng đông
...
Cả
chúng ta nữa, đang cồn cào cùng dòng sông đói khát. Những giọt nước đục tìm cách
lọt qua khe vải. Mặt nước khổng
lồ ghìm nén xao động, mong giữ lại bóng
người. Bật que diêm rồi, vẫn nhớ ngọn
bấc còn rất xa. Vung tay lên, nói
một mình trong bóng tối (Biến
tấu con quạ).
Có
chút gì chơi vơi trong tâm thức con người.
Sự níu kéo, sự nỗ lực, sự buông
xuôi,... rồi tất cả
bị nuốt vào trong cái bụng tối đen
của con quạ. Mĩ cảm
của tác giả làm người đọc
thực sự âu lo. Cái chết
ẩn náu đâu đó trong những bóng râm,
những khoảng tối rồi bất thần
ập đến. Lễ
thiên táng cho thân phận được chính
thức bắt đầu.
3.
Với
những dự cảm bất an về
thân phận, thơ Mai Văn Phấn không ru ngủ
người ta, mà đánh thức linh thị con
người trong niềm khắc khoải hiện sinh.
Tư duy và mĩ cảm của anh khởi sự từ
niềm bất an ấy. Ngôn
ngữ thơ biểu hiện tính phân mảnh của
hiện thực trong một lô gíc mới. Những
ngẫu hợp của đời sống chen
chúc trong cấu trúc câu thơ ngỡ như thiếu
mạch lạc. Nhưng rõ ràng đã đem lại cho
người đọc một cảm giác chân thực
về những gì đang xoay động quanh ta. Sự hoài nghi và chối từ trật tự,
mĩ cảm cũ hướng tới một thế
giới mà ở đó mọi khả năng đều có
thể xảy ra. Sự trực nhận
của cảm giác xui khiến tư duy phủ nhận
những khuôn thước cũ đã chật hẹp,
lỗi thời, những chuẩn mực đã méo mó, không
còn khả năng định vị. Tâm thế
của con người trong bối cảnh sống chất
ngất rủi ro đã hướng tư duy và mĩ
cảm của tác giả vào từ trường hậu
hiện đại.
“Hôm sau” nghĩa là còn chưa tới. Niềm khải thị về nghiệm sinh dẫu
đầy bất an nhưng sẽ có ý nghĩa
cho một tương lai khả hữu hơn.
Thanh
Hoá, 03/3/2010
NTT.
ĐÃ ĐĂNG: phongdiep.net
|
|