Trang chủ Kết nối Mai Văn Phấn Poetry by MVP Liên hệ  
Kết nối
Tin văn
Trả lời phỏng vấn
Thơ
Văn
Bài viết khác
Mai Văn Phấn
Sáng tác mới
Thơ
Trả lời phỏng vấn
Dư luận
Tiểu sử
Poetry by Mai Van Phan
Poetry
Interview
MaiVanPhan's profile
Translator's profile
Các tập thơ đã xuất bản
Vách nước - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng
Giọt nắng - Thơ Mai Văn Phấn - Hội văn nghệ Hải Phòng 1992
Nghi lễ nhận tên - Thơ Mai Văn Phấn
Cầu nguyện ban mai - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng 1997
Gọi xanh - Thơ Mai Văn Phấn
Giọt nắng - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng
Các tập thơ trên Website

QUAY THEO MÁI NHÀ
(công bố: 11.2007)

anhanhemem
(công bố: 10.2007)

 

DƯ LUẬN VỀ 2 TẬP THƠ “Hôm sau” & “và đột nhiên gió thổi” của MVP

Lê Vũ: Mai Văn Phấn, Hai tập thơ, Hai mảng màu hiện thực
Đặng Thân: Mai Văn Phấn & công nghệ cách tân thơ
Dương Kiều Minh: Hiện thực giả định và hiện thực tâm tưởng trong hai tập thơ mới của nhà thơ Mai Văn Phấn
Nguyễn Hoàng Đức: Mai Văn Phấn, ngòi bút phiêu lưu giữa những biến cố của tâm hồn
Hoàng Hữu Các: Và đột nhiên gió thổi
Vĩnh Phúc: MAI VĂN PHẤN VỚI “ HÔM SAU” & “ VÀ ĐỘT NHIÊN GIÓ THỔI“
Hoài Khánh: Với Hôm sau, nhà thơ Mai Văn Phấn thêm một lần tự đổi mới thơ mình
Nguyễn Thánh Ngã: MƯỜI NGHĨ NGẮN VỀ THƠ MAI VĂN PHẤN (vừa đọc vừa nghĩ)
Lê Vũ: “Bài học”& Phong cách Hậu hiện đại
Nguyễn Việt Chiến: Mai Văn Phấn với những bài thơ hướng đến một trường-thẩm-mỹ mới
Vũ Thị Huyền: Nhà thơ Mai Văn Phấn - “Chữ bầu lên tư tưởng”
Văn Chinh: Độc hành Mai Văn Phấn
Đặng Văn Sinh: Mai Văn Phấn và khúc biến tấu "Hôm sau"
Đào Duy Hiệp: Cấu trúc ngôn ngữ và hình ảnh trong tập thơ VÀ ĐỘT NHIÊN GIÓ THỔI của Mai Văn Phấn
Phan Triều Dương: Hôm sau - dù có bao giờ
Nguyễn Thánh Ngã : MỘT GIỌT NƯỚC MỘT MẦM CÂY
Nguyễn Thanh Tâm : Động hình của tư duy và mĩ cảm trong tập thơ Hôm sau của Mai Văn Phấn

Lê Vũ

Mai Văn Phấn, Hai tập thơ, Hai mảng màu hiện thực


Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, Mai Văn Phấn (MVP) tung ra liên tiếp hai tập thơ “Hôm sau” & “và đột nhiên gió thổi” trong quý II & III/ 2009 (NXB Hội Nhà Văn và NXB Văn học). Bởi lẽ, hai tập thơ, là hai cánh cửa âm dương, sau trước đồng thời mở vào thế giới thi ca của Thi -sĩ -làm -thơ -trên -bờ -biển, là hai trong một tâm thế cảm thức của MVP khi biện bày hiện thực.

Hiện thực, không hề là nguyên mẫu nhưng là một hiện thực thậm phồn (hyper-reality), những simulacra, với lớp lớp hình ảnh đa tầng đa phương, phi trung tâm. Đời thường nhặt nhạnh, những trở trăn, giấc chiêm bao, cả những nếp gấp tư duy đã được hư cấu hóa toàn phần từ gốc đến ngọn. Hiện thực trong hai tập “Hôm sau” & “và đột nhiên gió thổi” chen chúc giữa miêu tả và tra vấn, chiêm nghiệm và dằn vặt, phê phán và chúc tụng, khắc khoải với mò mẫm kiếm tìm, giữa những xung năng chết và sống, giữa cú đấm, máu, nước mắt và nụ cười giễu nhại… Nếu “Hôm sau” nổi lên là những hoang tưởng, hoài nghi, một "niềm kinh hãi rằng có ai đó đang vẽ kiểu cho cuộc sống của mình” (Tony Tanner) với nghìn nghìn hỗn độn, phi lý của hiện thực thì, “và đột nhiên gió thổi” không hề là một vòng luẩn quẩn (vicious circles) của đời sống mà ngồn ngộn những tinh khiết sáng trong nhuần nhị với xuân thu, với em trong veo làm chủ thể sống động, với mây ngày gió thổi những bông hoa, với nghi lễ của đất rộn ràng mùa màng giai điệu.

Tập “Hôm sau” gồm 27 mẩu chuyện lặt vặt thường ngày: một ông khách, những nghệ nhân, anh tôi, ông trưởng thôn, chị thu tiền điện rồi một Hắn …; bên cạnh là cái lưỡi trên đỉnh cột, con ong bằng nhựa hay bằng gỗ, con gián ba tháng tuổi, con quạ của mọi cái chết đều được sắp đặt…đến cái thùng rác và những tin đồn… Tất cả có mặt như một ngẫu nhiên của hiện thực không đuợc xếp đặt, ngang bằng và phi trung tâm. 27 chuyện, một con số biến thiên hằng hà chỉ ra những biến hóa vô thường của hiện thực tạo ra trùng trùng những cú shock của nhận thức chứ không phải những cú shock của cái mới (Edit Deak).

Đây là căn nhà, thế giới riêng của MVP, những ngổn ngang và bất ổn, ảo giác và hoang mang chồng ghép dày đặc:
Nhà mình/Mọi sự đảo lộn/Không nhớ bức chân dung hạ xuống bao giờ
Đâu rồi chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót?/Bộ ấm chén giả cổ ai cho?

(Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ)

Những con vật như được chế tác bằng đồ phế thải, hoài nghi không -hoài -nghi nhưng hoàn toàn không phải là hiện thực thần kỳ (magic realism):
con mèo tam thể được sinh ra từ mớ giẻ rách?
con cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ lon beer?
chim họa mi hót trong lồng là chiếc ấm vỡ?
con chó giụi đầu vào tay mình là cuộn báo cũ?
đàn kiến đang nhẫn nại tha mồi là đống mạt cưa?

(Không thể tin)

Và khoắt khuya, khi nghe tiếng những nghệ nhân gọi mời, bức tượng, chiếc quạt, con giống, bóng đèn,… con chữ rùng mình, những giọt mực tụ lại, bộ quần áo trang nghiêm, tất cả “Quay theo mái nhà”. Đó là vũ điệu của sinh & tử, của những va đập đến bát nháo điên rồ. Con cá tắt thở trên đường gần đến cửa sổ. Lũ chuột nhắt chết đuối bơi qua chảo mỡ. Bột giặt vừa quay vừa rắc lên hoa quả, dao thớt, bàn thờ. Bát nước chấm quay cùng bìa đậu phụ. Lọ tương ớt lao đi trong tư thế lộn ngược trong khi Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt / Chốc lại cúi gập (Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ).

Trên mặt đất hôm nay, khi mà thiên tai dồn dập, virus bệnh tật tấn công ngày ngày, rồi tệ nạn phân biệt chủng tộc, mất bình đẳng giới, chênh lệch giàu nghèo… vẫn đóng trụ thì hỗn độn là một xu thế tất nhiên, trở thành cả một hệ thống lý thuyết tồn tại với hiệu ứng cánh bướm(1)… Cho nên, MVP không kể chuyện mà chỉ tạo ra những khả thể về những câu chuyện, và chúng ta có thể dựa vào những khả thể ấy để tự kể chuyện theo những cách riêng của mình. Đây là kỹ thuật đa tâm điểm được nhà thơ vận dụng xuyên suốt tập “Hôm sau”.

Bước chân khỏi nhà, chạm mặt với đời sống, MVP nhìn gần nhìn xa. Kìa là đám mây vẫn nhởn nhơ bay ngày nắng còn tên trộm, hắn đã cải trang thành người tử tế (Nghe tin bạn mất trộm), là đám trẻ con biết quá nhiều về người lớn nên sớm mắc những căn bệnh tuổi già (Dạy trẻ con), là những cái mặt Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang/ Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học/ Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương cũng rất điệu đàng khi bước lên bục Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp (Bài học). Và tôi loáng thoáng mơ hồ nụ cười diễu nhại của nhà thơ sau cặp kính loang trắng nhưng còn đây phải chăng là giọt lệ cho ngàn năm sau trước.

Đây là đỉnh trời/hay đáy vực sâu/chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát
Mồ hôi du khách trên đá xám/ nở thành hoa phù dung.


(Ghi ở Vạn lý Trường Thành)

Thế đó, với MVP, thơ là cảm xúc cũng là suy tư, là tiếng khóc trộn trạo tiếng cười, là nỗi đau, mất mát, xót và đắng . Có thể nào không hoang mang vực ngờ khi mà Lưỡi tôi bị thắt /treo lên đỉnh cột và khốn nạn hơn, nhận ra mình tồn tại bởi cánh bướm, biển quảng cáo và thiếu nữ không quen biết/ Họ nói giùm tôi cuống lưỡi vực sâu (Ở những đỉnh cột).

Còn “Hắn” phải chăng là tôi, khi thường xuyên đến trong ý nghĩ, một hắn – tôi lẩm bẩm Nơi bóng tối ăn thịt bóng tối. Tất cả là hoàn thiện dù bị vá chằng vá chịt, sơn quét tô vôi loang đến lổ.
của gương đã lành/ sâu đã nở/ trinh đã mất/ cáp đã đứt/ cống đã thông...
là bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ sinh/ giày dép lạc mốt.../là viên đạn bay đi chạm đích/ những vòng kinh hồi sinh/ dòng sông gặp biển...

(Hắn)

Thế giới đang nhiễu & loạn, đang biến thái và những bạo động cưỡng hiếp toàn phần để không ai có thể giữ lại cho mình, dù là cái riêng nằm trong đũng quần - của quý kia phải liệng xuống hố phân- mà không phải hoán đổi/ hoán cải nhân phận.

Tôi cúi xuống đón chiếc ách lên vai/ Tôi xù lông và bắt đầu sủa lớn
Tôi lúc lắc và kêu bíp bíp/ Tôi mài cơ thể mình xuống sàn nhà.

(Chỉ là giấc mơ) .

Người thành dê chó, trâu bò và nhân thế chỉ còn là chốn của súc sinh ngự trị không hề là một huyễn tưởng mà là hiện thực mang nghĩa biểu tượng học (semiology). Con quạ với Tử khí kéo ngọn bấc tới đỉnh trời cũng là một loại kích vật mang nhiều ý nghĩa khác nhau, một ngày Thế Tận, cái bóng của Tội ác & Trừng phạt…?

Bóng đêm chui dần vào bụng quạ.
Cả chúng ta nữa, đang cồn cào cùng dòng sông đói khát. Những giọt nước đục tìm cách lọt qua khe vải. Mặt nước khổng lồ ghìm nén xao động, mong giữ lại bóng người. Bật que diêm rồi, vẫn nhớ ngọn bấc còn rất xa. Vung tay lên, nói to một mình trong bóng tối.

Con quạ khật khừ xuyên đêm/Thảng thốt kêu
Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại

(Biến tấu con quạ)

MVP mời chúng ta tham gia vào biến tấu quạ để ngẫm ngợi, một văn bản mở có thể có trăm chiều hướng diễn giải. Đây cũng chính là thi pháp chủ đạo mang cảm thức hậu hiện đại với cấu trúc luận (structuralism) & biểu tượng học, cũng là cú đột phá vượt lên MVP những tháng cũ cùng ngày.

Do đó, tập “Hôm sau” đầy rẫy những ngớ ngẩn, cố chấp kiểu “Đúng vậy” của một ông già cứ bập bẹ những lời lẽ quấy rồi đục... nhục rồi than... tan rồi huề... mê rồi tỉnh... thỉnh rồi buông..., cái điệp khúc cứ da diết cắn cấu vào thanh âm của chán vạn phi lý nhân sinh.

Đôi khi “Tỉnh táo tột cùng”, nhà thơ nhận ra:
Đừng gượng dậy nói về lòng tin và niềm hy vọng
khi qua khe cửa hẹp/ gió biển đang bắn vào từng mũi tên mát rượi.

Cũng như khi “Nhìn kỹ” mới hay :
Nắp thùng rác có dòng chữ in sẵn:
“Ở đây không ô nhiễm. Xin bạn yên tâm!”

Tập “Hôm sau” đã thực sự vất bỏ tính quý phái hàn lâm, xóa nhòa ranh giới giữa văn hóa cấp cao và thấp, tiếp cận người đọc bằng ngôn ngữ đời thường khi trình bày hiện thực từ cái thùng rác đến mớ giẻ rách, vỏ lon bia, đến cả chứng liệt dương và con c. trong túi quần.... Và, đã khép lại với giọng kể ứ ừ mắc ngang thanh quản rơi vãi giữa lịt mịt bụi khói và ngụy trá của cuộc ngày, một bức tranh lem luốc lọ mọ đen do bán cầu não trái tô vẽ, một hiện thực thậm phồn quánh đặc chất hậu hiện đại với nhọ nhem hoang tưởng hoài nghi sợ hãi cả giễu nhại, một hiện thực ám âm ám ảnh ám thị. Kết thúc “Hôm sau” là một giả thiết với những con cá đen và cạm bẫy chực chờ sắc nhọn ban mai:
Có thể dưới bình minh đen/chất ngất những con cá đen
Gió móc vào ông lưỡi câu có ngạnh.

(Giả thiết cho buổi sáng hôm sau)

Nhưng đó chỉ là giả thiết của tập “Hôm sau”. Trong tập tiếp theo “và đột nhiên gió thổi”, buổi sáng hôm sau không có những con cá đen và lưỡi câu có ngạnh vì bình minh là một hồng hà mặt trời, một bức tranh lộng lẫy hồng tươi do bán cầu não phải cầm cọ. Thơ đã động chuyển từ cực âm sang dương, từ bóng tối đi về ánh sáng, từ đêm vào ngày, từ rạn nứt nhân sinh đến cảnh giới tuyệt vời của thiên nhiên hoa trái mùa màng. Vẫn là hiện thực thậm phồn ngẫu nhiên đuợc hư cấu, vẫn với nhịp điệu câu ngắn dài bất ổn nhưng MÀU đã sáng trong trinh bạch, như thể khát khao bàng hoàng hiện trong tâm tưởng. Nói như Dương Kiều Minh, Hôm sau là hiện thực giả định trong khi và đột nhiên gió thổi là hiện thực tâm tưởng. Này là tiếng em gọi sóng lan xa tan trong diệp lục, này là chậu nước hiển hiện hình ảnh em, rồi tiếng hát trong vòm cây, cánh chuồn chuồn rẽo đất, những ong và bướm cơn mưa trong ngần, bông hoa mùa thu, cả vầng ngực em dâng đầy như biển khi em cho con bú.

Từng âm vận, hình ảnh trong tập “và đột nhiên gió thổi” đều mềm như lụa, thơm thơm hương đất ngọn cỏ nhưng lại đặc biệt khác với thơ trữ tình cổ điển ở cách nhìn, những phân vân hỏi mình hỏi người, nỗi băn khoăn của không ngừng lựa chọn.

Thét lớn đến chết
Im lặng đến chết mà tái sinh thế giới

(Những bông hoa mùa thu)

Câu thơ đầy ý vị thiền và mơ màng ta tưởng cùng một màu với Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư nhưng không, tiếng thét ở đây chỉ là một hình thái (form), một loại kích vật mở ra nhiều trường đoạn nghĩa tùy theo cảm nhận người đọc, không hề là tiếng thét giữa hư không để lạnh đất trời của Không Lộ thiền sư(2). Tiểu tự sự (small narratives) và đại tự sự (grand narratives) cũng khoanh một vòng tròn ở đây.

Tiếng nói bên kia đầu dây điện thoại hay khuôn mặt em trong chậu nước rồi “Bài ca buổi sớm” bàn tay em gieo trồng trên ngực chưa bao giờ là sự thật tuyệt đối. Vẫn còn đó những khoảng lặng mơ hồ của hoài nghi trong khoảnh khắc “Nhắm mắt”.
Khi nhắm mắt chợt thấy thế giới không còn ô nhiễm. Những khoảng không thanh sạch quanh ta lan tỏa, đan cài. Thấy mình thuở nhỏ giữa lòng nhà thờ cầm cây nến sáng. Ánh sáng ngọn nến đang tràn vào hốc mắt, vào trũng đất sâu bất động giữa vòm cây bí ẩn mướt xanh.

Đó là tâm tưởng định hình một loáng chớp mắt nhắm; mở mắt vẫn là thực tế trần truồng phũ phàng với bán mua diêm dúa, với gạt lừa bệnh hoạn. Tâm thần vẫn tâm thần, bông hoa là dị ảnh, những cặp mắt cá lồi khi thế giới loạn thị nên ánh sáng, một hiện tượng phi bản chất, rồi cũng rách toang hoác:

Ánh sáng đã rách. Nếu một sớm. Thật phản cảm khi thấy nhau giống những con cá mắt lồi. Em hắt về anh nhiều dị ảnh bông hoa. Dễ loạn trí nếu phải sống trong một thế giới loạn thị. Không, ta vẫn còn giọng nói. Mỗi âm tiết lúc ấy hiện lên một sự thật. Sự thật hiển nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ thông. (anhanhemem)

Dù cố nhắm măt xua gạt đi, vẫn phải chấp nhận Sự thật hiển nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ thông. MVP thực sự đã bước vào vùng sáng của tâm thức roi rói tươi xanh trong từng vần, điệu, hình ảnh nhưng ngày ánh sáng cũng chỉ là ảo ảnh của thị giác, mặt trời thức ngủ là do lăng kính mắt nhìn. Không thể có sự thật vĩnh hằng, chỉ là những mảnh ghép tình cờ trên một vùng ngực rộng mở Thành quả chuông run lên trong mưa/Gặp đèn trời, khói bay, gió lạnh/Hay vô ý chạm vào một lá cỏ/ Bất kỳ... (Khai bút cùng cỏ).

Và phải chăng khi giọt mưa về muôn vật muôn loài sẽ tinh khiết, an nhiên tự tại và ổn cố? Những hạt mưa rơi xuống. Em nhắc chúng ta từng là giọt nước. Trong lành em rơi xuống anh. Để anh biết thiên nhiên và đồ vật quanh mình đều bằng nước. Tất cả là em đợi anh đến gần. Tờ lịch đang tự mở sang ngày mới. Nền nhà, khung ảnh, bàn ghế luôn sạch sẽ. Trà thơm vừa rót. Bát đũa đã sấy khô. Con dao cái kéo bỗng nhiên lại sắc. Sách vở gọn gàng. Và chốt cửa tự bật mở khi anh bước ra. (Mưa trong đất)

Câu hỏi treo lên tùy tâm mà mở. Cho nên, “và đột nhiên gió thổi”, dù thấm đẫm chất trữ tình nhưng ám ảnh loạn tâm và những bấp bênh đời vẫn là sợi chỉ xuyên ngang đan dọc khiến tập thơ phân biệt với lối thơ trữ tình tự sự thuần túy. Đây chính là bước nhảy vọt của MVP trong nhận thức thế giới, là cái nền trên đó thi sĩ xây ngôi nhà thơ của mình với phong cách riêng, phong cách MVP.

Mặc kệ tất cả, thế giới vẫn không ngừng biến động với tốc độ chóng mặt, hoán chuyển hoán vị mọi giá trị ; và MVP cũng mặc kệ cô đơn, mặc kệ tan hợp, mặc kệ âm u hay huy hoàng, tiếp tục để mình rơi xuống vũng em với những môi hôn.

Cả nỗi cô đơn cây kèn vừa ngân/ Tiếng lóng lánh nấp trong chiếc kim tuột chỉ/ Khẽ nhắm mắt, khẽ ngậm vào tóc em/ Đang chết đi và đang sinh sản
Dù có lả đi thành âm u bóng tối/ Lại thấy huy hoàng chạm những môi hôn.

(Anh đã rơi)

Ngoài kia gió thổi, và ta thấy Con ong vẫn nhởn nhơ bay /thác đổ đều đều, mưa rơi rất chậm/ nhưng tất cả ngọn cây đều bạt về một phía. Con ong rồi ngọn thác, đến giọt mưa, cả hàng cây đều quy hàng về một Phía, phía của một biểu tượng, ở đây phải chăng là con sam cái khổng lồ bao trùm mặt đất mà anh cõng suốt trên lưng?

Cho nên, không có gì để ngờ, “và đột nhiên gió thổi” là một tập thơ tình vì nguồn cội cứu rỗi, mảnh phao bám víu giữa hoang mang trần thế chính là Em & tình yêu Em.

Vừa chạm vào bờ ánh sáng/ Anh quỳ xuống
Em hiện thân trong chiếc áo thiên thần/ Lấy một ít nước gọi lên máu và sữa cỏ/ Em dịu dàng rửa tội cho anh.

(Nghi lễ cuối cùng)

Jean Baptiste đã rửa cho Jesus bằng nước của dòng sông Jordan(3); người Ấn Độ tắm mình trong Sông Hằng, còn MVP chấp nhận nghi lễ rửa tội từ bàn tay và trái tim em. Rồi chúng ta hợp lại thành mưa nắng mùa màng, tái sinh đất đai, tái sinh thế giới bằng chính nụ yêu thương mật ngọt:

Em và anh tụ thành nước mát
mưa xuống những nụ hôn làm lại thế gian.

(Những bông hoa mùa thu)

Sức mạnh cũng dựng lên từ đó, tình yêu: Em gối lên anh kè đá chắn sóng làm hàng cây ngăn giông bão đi qua và rồi em bảo: “mình vừa tái sinh dưới đám mây bay”. 27 đoản khúc của trường ca Những bông hoa mùa thu đã thực sự hát lên lời tình, những thống thiết yêu thương băng băng dặm ngàn trần thế, đi qua vực thẳm núi đồi mưa gió đời để tụ hội hân hoan. Hình ở đây đã xanh, vần ở đây đã tròn, tiết tấu cũng theo đó ăm ắp dịu dàng và ngôn ngữ thì hoàn toàn không dung tục. Từng trang từng trang thơ, MVP như mở ra từng nhen nhúm hy vọng, gieo trồng từng hạt giống niềm tin, giã từ bóng tối buớc vào rực rỡ hương hoa ánh sáng:

Ta rực rỡ trong vỏ bọc đêm tối. Hòa quyện đường vân thớ gỗ, rổ rá đan bện, ánh sáng gặp nhau nơi sợi tóc bóng đèn... Ta khai mở, tôn vinh nhau. Thành ngọn nến, nước sạch. Thành hoa tươi, hương thơm tế lễ tổ tông. Sông cuộn chảy cứu cánh rừng đang cháy. Lưỡi dao sắc cắt vào quả ngọt. Tảng đá vụn rời tự bay theo gió thổi. Nghe sữa đọng trong từng cọng cỏ, mắt thú dữ phát quang bóng tối, những giọt đắng chảy về túi mật, và tro than vùi xuống luống cày. Ta xoải mình trở thành người khác, làm hạt giống giã từ sân kho, bồ hóng gác bếp, giã từ thúng mủng, chum vò... lăn xuống đất đai.
(Mưa trong đất)

Dù thái độ mỹ học của MVP trong toàn bộ “và đột nhiên gió thổi” nghiêng về chủ nghĩa hậu hiện đại với gai góc của một cái nhìn đau đáu thế sự mùa màng kiểu như: và mẩu thức ăn để dành giấu nơi ký ức/ Sự thật làm con chữ nhảy ra không thể thu về/ càng tự tin tỉnh dậy nhìn biểu tượng ngập trong miệng lửa (Nơi trời rộng) nhưng cuối cùng và đột nhiên gió thổi, với nhân vật em làm trung tâm, chính là tập thơ trữ tình, và chất hậu hiện đại ít nhiều đã bị giảm trừ (xét trên mặt cấu trúc luận, ngữ ngôn và tính đối kháng).

Trả lời phóng vấn, MVP đã thú nhận : Nghệ sĩ là người liên tục vượt qua những cuộc "vong thân" để hoàn thiện mình. Bỏ lại những tập thơ sau lưng với một khoảng thời gian dằng dặc dài, MVP kiến trúc mình trong lặng im, lặng im của tâm thức, của cảnh giới và trí huệ để rồi từng bước giậm chân vào "nền văn chương của sự phong dật" (the literature of replenishment), thực sự vất bỏ những xếp nếp tư duy cũ trong hai tập thơ mới. Trong đó, “Hôm sau” là cánh cửa khép lại bên trong với hiện thực chủ quan đen nhẻm, không cấu trúc, phi trung tâm, xóa nhoà biên giới nhị phân của văn hóa cao và văn hóa thấp, văn hóa bình dân và văn hóa trí thức nên thực sự là một tập thơ hậu hiện đại thuần túy; đối lại “và đột nhiên gió thổi” là cánh cửa mở ra bên ngoài với một bến tình, với thiên nhiên mùa màng mà em là trung tâm nên là một tập trữ tình dù cảm thức hậu hiện đại vẫn mang mang đâu đó với ít nhiều giằng xé da diết.

Với hai tập thơ, hai mảng màu hiện thực đối đãi, MVP đã bắt kịp nhịp chuyển động từ trong ra ngoài thế giới đa chiều đồng thời tạo dựng cho mình một thi pháp riêng nghiêng về tinh thần hậu hiện đại .Với tôi, đó là một phong cách hậu hiện đại gắn liền với cái nền văn hóa Đông Phương, không quá thô tục và cứng cỏi tráo trợn bát nháo như của một nhóm thơ trẻ/ già trùm mũ hậu hiện đại để văng tục, quăng bừa ra những phân, đờm dãi, kinh nguyệt máu me nước tiểu với bồn cầu…, một phong cách không làm người đọc phải ngoảnh mặt đi. Và cũng không phải là hệ lụy chi đó ( 4 )- như một tác giả nhận định về những ẩn dụ trong thơ MVP, ngụ ý rằng ẩn dụ trì kéo lối đi cũ, ngăn trở bước thăng hoa của thơ. Ẩn dụ (hay biểu tượng) như là hình thái kích vật mời người đọc tham gia đồng sáng tạo văn bản. Nhà văn tạo ra những khả thể (về ngôn ngữ, sự kiện, hình ảnh…) và tất cả để cho người đọc tiếp nhận trên nhiều chiều kích suy tưởng . Đây là ý kiến quan trọng của R. Barthe trong Le Degré zéro de l'écriture (“Độ không của tác phẩm”).

Nhìn lại, có thể nói MVP đã âm thầm cày ải cánh đống thơ, với một nội lực sung mãn, với những trải nghiệm nhân sinh chín muồi mà “Hôm sau” & “và đột nhiên gió thổi” là một bằng chứng hùng hồn xác thực thể nghiệm một thi pháp mới, trong thời đại mới. Hy vọng nhà thơ còn góp mặt nhiều hơn với những sáng tạo của mình trên nẻo đuờng thơ canh tân.
Cam Ranh 2/10/2009
------------------------------------
Ghi chú:
1 - Hiệu ứng cánh bướm (Butterfly effect) là một cụm từ dùng để mô tả khái niệm trong lý thuyết hỗn loạn về độ nhạy cảm của hệ đối với điều kiện gốc (sensitivity on initial conditions).
2 - Nguyên bản bài Ngôn Hoài của Thiền sư Không Lộ:
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Tỏ lòng
(Người dịch: Phan Võ)
Kiểu đất long xà chọn được nơi
Tình quê nào chán suốt ngày vui
Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời.

3 - Tân ước của người Thiên Chúa giáo.
4 - Dù rất nỗ lực giải thoát thơ khỏi ẩn dụ, nhưng thế nào Mai Văn Phấn cũng rơi vào hệ lụy của vô vàn ẩn dụ. Từ ẩn dụ “Nhà thơ trú trong bóng râm / Những con chữ bị khoét mất mắt” qua “Đàn quạ lũ lượt chui khỏi ngũ quan, lập tức sà xuống săn mồi theo bản năng của loài ăn thịt” đến ẩn dụ về “những con kiến chữ khổng lồ” hay “Cầm cuốn sách bơi ra phía biển. Cắm con dao xuống đất rồi tưới nước. Trùm chăn đi vào đám cưới. Một mình trèo lên đồi cao giơ tay phát biểu ý kiến. Thổi điệu kèn đưa ma con nhện”.
(Inrasara – Mai Văn Phấn, kết thúc cho một khởi đầu)

ĐÃ ĐĂNG:
+ http://damau.org/archives/9393
+ http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=8588

+ http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?
TPID=11152&LOAIID=28&LOAIREF=1&TGID=1345

+ http://doanvinhphuccr.vnweblogs.com/post/12475/189028

+ http://ngoctanns.vnweblogs.com/post/4314/189081

+ http://hoinhavanvietnam.vn/News.Asp?Cat=&SCat=35&Id=1935


Đặng Thân

Mai Văn Phấn & công nghệ cách tân thơ
(Giới thiệu/đọc/nghe/nhìn tập thơ Hôm sau của Mai Văn Phấn, Nxb Hội Nhà Văn - Hà Nội 2009)

“Người, bến đỗ của thi ca”
- M. Heidegger

Thời đại “hậu công nghiệp” trên toàn thế giới.
“Cả nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa…” trong không khí… hủ hóa toàn diện và “toàn vẹn lãnh thổ”.

Một thành phố cảng, cửa ngõ Bắc Bộ (hay Bắc Hà). Tôi đã phải đưa nó vào tiểu thuyết (chưa xuất bản):

Hải Phòng là một nơi đặc sắc của Việt Nam. Vừa là đô thị vừa là nông thôn; vừa có bản khí của đồng bằng Bắc Bộ vừa là nơi địa đầu “hải tần phòng thủ”; vừa là nơi có nhiều ngành nghề vừa là thương cảng quốc tế; vừa trọng văn hóa vừa dung tục; vừa nồng nàn vừa hung bạo; vừa cam chịu vừa bán giời không văn tự. Nó tiêu biểu cho khí Việt hơn cả Hà Nội (…), Sài Gòn (…), Huế (…), Đà Nẵng (…)…

Anh – một stereotype của thời đại, đáng nhẽ.
Đã thu xếp cho mình trở thành một con ốc, một cái bu-lông to nhớn của cỗ máy công nghiệp nặng.
Đã tự mình chế ra những con robot.
Đã dàn cảnh cho những kịch bản gọn gàng, trôi chẩy của cuộc đời.
Cứ thế…
Nhưng mà… vẫn còn dư năng lượng.
Mà…

Thế giới nội tâm nó luôn luôn không chịu thỏa hiệp với guồng máy.
Nó mới chính là NGƯỜI THẬT? Hay nó là QUÁI VẬT?
Khổ nữa, nó lại “hay chữ”.

Và Mai Văn Phấn đã trở thành tác giả của những tập thơ Giọt nắng (1992), Gọi xanh (1995), Cầu nguyện ban mai (1997), Nghi lễ nhận tên (1999), trường ca Người cùng thời (1999), Vách nước (2003)…

Phải chăng có một bài học ở đây: tại sao một bu-lông hay đinh ốc cũng cần nhiều chữ?
Phải chăng có một SỰ THẬT: con người không là máy bao giờ hay con người là một siêu máy?
Nhưng con người đã làm ra máy móc ấy. Máy móc ấy lại cứ quay ra kiểm soát con người. Chả thế mà có những bộ phim đưa ra viễn tượng một ngày kia máy còn siêu đẳng hơn cả con người về mọi mặt, rồi làm chủ cả hành tinh này, bắt loài người làm nô lệ.

Chẳng phải viễn tượng đâu, máy đang đàn áp, cùm xiết con người đấy thôi.
CON NGƯỜI của tôi đâu?
Anh – một ông chủ của phòng thí nghiệm ngôn từ.

Trước đó, như đã biết, loài người đã tạo ra nhiều robot. Bọn robot rất đa năng và hữu dụng. Bọn robot tất nhiên không có nhân tính. Tất nhiên bọn chúng không cảm xúc. Dĩ nhiên bọn chúng không “tư duy”. Ắt nhiên bọn chúng không cần LÀM NGƯỜI, một hành vi xa xỉ. Hẳn nhiên, bọn chúng ngồi xổm lên văn hóa. Tuy nhiên, chúng đông như kiến. Đã thế, chúng lại còn có những robot chúa quyền uy áp chúng sinh ra trên mọi góc hành tinh. Nhưng mà, hình như… chúng cũng có một tố chất mạnh mẽ: cực tham.

Rất tiếc, cho đến nay, bọn robot khắp nơi khả năng biểu đạt ngôn ngữ đều kém. Chúng chỉ lầm lũi “ăn” và “làm”, “làm” và “ăn”… vì chúng là robot.
Xin mở ngoặc, đây không phải là một kịch bản phim.
Anh lẳng lặng triển khai ý đồ nhồi ngôn từ cho robot, bắt chúng LÀM THƠ cho ra dáng con người.
Quý vị thử bước vào cuộc chơi rất mới bằng việc đọc bài thơ này:

Cuộc sống, như nước xuân
Khi mùa đông qua đi
Ngày hồng mới rạng
Cùng với con thuyền nhỏ trên biển lớn kia
Chòng chành giữa vịnh cuộc đời
Như hoa sen hướng về ánh nắng mặt trời
Thổ lộ.
Chẳng phải hồ đang dềnh sóng
Mà là giấc mộng của thuyền nhỏ kia
Say rồi
Trái tim của loài người say
Cùng với muôn đóa mây trắng
trôi đến đây
Con thuyền nhỏ của cuộc sống.

Sao? Quý vị thấy thế nào? Đây là bài “Con thuyền cuộc sống” do một cái máy tính làm ra đó. Có điều nó nhảm, nhạt, đầy những cliché, déjà vu và sặc mùi “văn nô”… vì: “thầy nào tớ nấy”, “cha nào con nấy”. Tất nhiên cái máy ấy không có lỗi gì, như có người đã nói: “Cái khiến cho thi ca bị sỉ nhục, bị khinh mạn, không phải là cái máy làm thơ, mà là sự xuống cấp của bản thân thi ca”.[1]
Những robot-thơ của Mai Văn Phấn, thật lạ kỳ, nhưng, tất nhiên, hoàn toàn khác.

Phòng thí nghiệm của anh có nhiều robot, toàn những con tiêu biểu, con nào ra con nấy. Xin được đưa ra đây 6 con robot cùng những tác phẩm của chúng, như thể cho đủ bộ “lục súc” của thời đại (cũng là tạm chia ra như thế thôi).

ROBOT “ÔNG CHỦ”

Tên robot này khệnh khạng nhất trong đám robot của anh. Sau khi nhồi cho hắn cả kho từ điển kiểu Lạc Việt với cả Eva hắn vẫn kiệm lời. Sản phẩm chữ nghĩa đầu tiên của hắn đầy lẫn lộn như người nguyên thủy hay trẻ em, mang vác hơi hướng của cái mà siêu học giả Pháp Lucien Lévy-Brühl (1857–1939) gọi là “tiền logic”. Đã thế “đầu óc” nó lại lẫn lộn nửa người nửa ma. Bài “thơ” khai cuộc của nó có tên “Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ”, một cái tên đầy tính “nguyên thủy” vì nó gợi mở khủng khiếp, như “ngôn ngữ hang động”!

Pha xong ấm trà
Quay ra
Ông khách không còn ở đó
Gọi điện thoại
Người nhà bảo ông mất đã bảy năm

Robot “Ông chủ” đã mở đầu bài thơ như thế. Thơ này người không thể nghĩ ra. Sau khi đưa ra “mọi sự đảo lộn” trong ngôi nhà rồi lại còn “ghé sang hàng xóm” hỏi han giá cả thị trường đầy biến động, quay về, thì

Trong nhà
Trà vẫn nóng
Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi.

Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt
Chốc lại cúi gập.

Kinh hãi! Không biết là hắn đang tả “khách” hay là đang tả chính hắn?? Thật là khốn khổ đời loài robot! Thế giới chúng đang “sống”, đang tồn tại, nào khác gì những con ma lặng lẽ. Tuy không phải là “vô ngôn vô lời” mang khí vị minh triết phương Đông mà cũng là vô ngôn vô lời vậy. Đại nghệ sỹ Anh David Bowie (1947~) bên trời Tây cũng đã phải thốt lên rằng đó là thế giới của những “dead man walking”[2].

Chắc không phải ngẫu nhiên mà Mai Văn Phấn để cho robot “Ông chủ” mở đầu thi tập cực lạ mang hơi thở của thời đại hậu công nghiệp, thời đại giẫy giụa của chủ nghĩa tư bản đang ngạo mạn tàn phá trái đất. Chính đương kim tổng thống Mỹ, chúa trùm của thế giới tư bản, Barack Obama (1961~), cũng đã nhận ra vấn đề:

Càng ngày càng có thêm bằng chứng cho thấy cách chúng ta sử dụng năng lượng càng khiến kẻ thù của chúng ta mạnh thêm trong lúc trái đất càng bị đe dọa thêm.[3]

ROBOT “NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI”

Tên robot này làm thơ “nhăng nhít” nhưng khá “tởn”. Trong bài “Không thể tin” hắn đưa ra nhận xét “tinh vi”:

Nhưng hình như
mọi con vật trong nhà
vẫn chế tác từ đồ phế thải

Dẫu là máy mà hắn cũng đủ khả năng nhận thức ra một sự thật xuyên suốt thời đại. Thế là xứng đáng hơn đứt con người rồi chăng?
Tên này còn làm ra các thi phẩm “dị mọ”: “Quay theo mái nhà”, “Bài học”, “Dậy trẻ con”, “Hội chứng từ một tin đồn…” và “Nhìn kỹ”.

Với “Quay theo mái nhà” tên này tiếp tục thực hiện sứ mệnh “thư ký của thời đại” của thi ca:
Những đồ vật không thể dừng lại. Thùng rác quay mắc phải khung ảnh, quạt trần, dây điện thoại. Chiếc quần lót mắc kẹt giữa tủ bát đĩa và máy tập thể hình. Chổi cùn, bình diệt muỗi, đĩa CD chui vào tủ lạnh. Con cá tắt thở trên đường gần đến cửa sổ. Lũ chuột nhắt chết đuối bơi qua chảo mỡ. Bột giặt vừa quay vừa rắc lên hoa quả, dao thớt, bàn thờ. Bát nước chấm quay cùng bìa đậu phụ. Lọ tương ớt lao đi trong tư thế lộn ngược. Và kim giây quay chậm hơn hẳn kim giờ...

Sứ mệnh ấy lại tiếp tục trong “Bài học” với chân dung “tả chân” một “người-đạo-mạo-đương-thời”:

Đạo mạo giết một con muỗi
Đạo mạo phát biểu chung chung
Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng
Đạo mạo lấy trộm áo mưa
Đạo mạo thở mùi hôi vào miệng người khác
Đạo mạo bọc nhầm một chiếc răng sâu
Đạo mạo tiểu tiện nơi công cộng
Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa
Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp
Đạo mạo xỉ mũi vào cửa kính
Đạo mạo moi tiền của gã ăn mày
Đạo mạo nghe trộm điện thoại
Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang
Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học
Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương
Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác
Đạo mạo đánh tráo bài thi
Đạo mạo tiêu tiền âm phủ

Quá đủ.
“Hội chứng từ một tin đồn…” và nhất là “Nhìn kỹ” đã hoàn thiện khuôn mặt người-đương-thời.

ROBOT “TAY MƠ”

Tên “dreamer” này đã làm những bài thơ sau: “Chỉ là giấc mơ”, “Ở những đỉnh cột”, “Giấc mơ vô tận”, “Kể lại giấc mơ”.
Trong “Chỉ là giấc mơ” hắn mơ những giấc mơ kinh tởm:

Chúng bịt miệng
trấn lột mọi thứ
và xin tôi bộ phận sinh dục.

Nói rằng xin
bởi nếu tôi không đồng ý
của quý kia phải liệng xuống hố phân
(chúng biết cả bí quyết và những câu thần chú).

Một thời đại mà cứ phải sống chung với bọn phù thủy dã man tràn lan khắp nơi. Thôi cũng đành chăng:

Tôi bảo:
các ông có thể lấy hết
nhưng cho tôi giữ lại chút riêng
xin tự nguyện làm đồ chơi, giẻ lau, trâu chó...
Thảm cảnh “Ở những đỉnh cột” lại càng kinh hãi:
Lưỡi tôi bị thắt
treo lên đỉnh cột
mỗi lần nói
chiếc lưỡi phải co rút
kéo thân thể béo ị lên cao
Tôi giẫy giụa tựa mảnh vải quẫy trong gió mạnh.

Trong “Giấc mơ vô tận”, dù để tặng một con người vừa mất, nhưng cái sự thảm mới là đệ nhất trần gian:

Gió mùa về
làm khăn trắng cuốn quanh gốc sú
trên đỉnh trời linh cữu nhấp nhô...

Các giấc mơ nơi đây đều hãi hùng. Đến robot cũng “thấm đẫm hồn thời đại” đến thế kia sao?

ROBOT “VẼ CHÂN DUNG”

Tên robot nghệ sỹ này quả thật có tài. Hắn vẽ được cả ngoài lẫn trong con-người-ta. Các chân dung gồm: “Anh tôi”, “Nghe tin bạn bị mất trộm”, “Đúng vậy”, “Hắn”.
Đây là chân dung “Anh tôi”:

Lúc gần đất xa trời, anh nhờ tôi giữ hộ ký ức. Anh dặn đây là dữ liệu quý. Nhưng kho ký ức tôi đã đầy ứ, cả mốc meo, thối rữa. Tôi khuyên anh nên vẽ tranh hoặc viết sách. Nhưng anh đâu phải nhà văn, hoạ sỹ. Tôi nêu nhiều giải pháp khác: cắt rời, khởi động lại, thu nhỏ, dừng đột ngột, ninh nhừ, nghiền thành bụi...

Anh nhìn tôi buồn lắm!
Tôi nhìn nước sông thay màu lướt qua bờ cỏ rũ rượi. Phù sa láng mịn. Trăng mọc sớm, thơ ngây và thoảng mùi rơm rạ. Nhớ người yêu vô cùng.

Anh nhìn tôi buồn lắm!
Chiếc áo vừa giặt nhàu nhĩ, lặng lẽ bốc hơi tôi đâu có biết. Rồi những sợi vải mỏng manh lại phẳng phiu dưới bàn là nóng bỏng. Giặt–là, giặt–là... Đời sống đôi khi giống quả lắc chiếc đồng hồ quá cũ... Tôi tập nghĩ vẩn vơ để có thể nghĩ tiếp.

Anh nhìn tôi buồn lắm!
Anh chờ tôi rửa tay. Vòi nước xối mạnh, rất sạch, mát mẻ vô cùng. Thương anh. Tôi nhìn bọt xà phòng ngầu lên trên da trơn ướt thật dễ chịu.

Đúng là một siêu phẩm tầm cỡ… robot. Nhưng, bất cứ con người nào làm thơ chắc cũng mơ viết được một bài như thế này. Tôi xin được thốt lên: bài thơ đẹp quá. Cái “đẹp” này thật “hiện đại” và “công nghiệp”… “hóa” – tinh thần thời đại lại hiển hiện lừng lững bật lên từ những con chữ. Bài thơ đầy khí vị của đời sống trần trụi, vụn nát, lạnh lùng, trơ tráo đấy mà cũng chẳng kém phần “à ơi” với “Anh nhìn tôi buồn lắm!”

Chân dung “một tên trộm” lại đưa ra một vẻ tài tình khác, cái chân dung này sắc sảo như sự phân tích của các thám tử lừng danh đâu đó:

Kìa đám mây hình người vừa lọt vào bầu trời xanh lơ. Biết đâu tên trộm cũng vào nhà bằng tư thế ấy. Giờ hắn đã cải trang thành người tử tế, còn đám mây kia vẫn nhởn nhơ bay.

Chân dung một người đàn ông trong “Đúng vậy” mới thật là “vừa truyền thống (ca/đồng dao) vừa hiện đại”, tả rõ ràng đó mà chẳng ai biết đó là ai, chỉ biết có lẽ đó là nhân vật đại diện cho cả thời cuộc:
Lúc đi
ông mặc áo len màu cổ vịt, quần rộng đũng
tóc cắt ngắn
tay cầm cuốn sách

ra gần cửa còn lẩm bẩm:
sáng rồi tối... thối rồi thơm... bơm rồi xì... đi rồi ngã... vả rồi thương... ương rồi chín... nín rồi thét... kẹt rồi lơi... xơi rồi hóc... bóc rồi che... đe rồi chừa... đưa rồi quỵt... bịt rồi hở... lỡ rồi toi... moi rồi thấy...

chốt cửa gỗ
kéo cửa sắt
ông bấm năm chiếc khóa
rồi ném chìa vào trong nhà...

Lật đống chăn nơi ông vẫn nằm
thấy mẩu giấy với nét chữ nguệch ngoạc:

"Ai tìm thấy tôi ở đâu, gọi về số...
Xin cảm ơn và hậu tạ".

sau mẩu giấy vẫn văng vẳng:
quấy rồi đục... nhục rồi than... tan rồi huề... mê rồi tỉnh... thỉnh rồi buông...

“Đèn cù” và điên loạn. Chân dung “người anh hùng thời đại” này được hoàn thiện với bức “Hắn”:
Nơi bóng tối ăn thịt bóng tối
hắn ngồi lẩm bẩm...

... lầm rầm âm thanh tiếp diễn
của bóng tối chưa thành
của bóng tối nuốt dần bóng tối
của màu đen không thể đen hơn.

Hắn là nơi hoàn thiện:
của gương đã lành/ sâu đã nở/ trinh đã mất/ cáp đã đứt/ cống đã thông...

là bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ sinh/ giày dép lạc mốt...

là viên đạn bay đi chạm đích/ những vòng kinh hồi sinh/ dòng sông gặp biển...

Lần mò leo tận cây cao
hắn hô:

Ê, chiếu ánh sáng vào đây!

ROBOT “THẾ THÁI”

Tên robot “hủ nho” này đã than thở ra những bài sau: “Ghi ở Vạn Lý Trường Thành”, “Đêm lập xuân”, “Biết thì sống”, “Cái miệng bất tử”, “Sống hồn nhiên”.
“Ghi ở Vạn Lý Trường Thành” có vẻ không cần phải đưa ra cái gì mới với những:

Mây xếp lên vai từng tảng đá nặng
nhoè mắt cát
thở đầy ngực cát

và:
Đây là đỉnh trời
hay đáy vực sâu
chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát

Thế nhưng, quý vị hãy đọc đi sẽ thấy những ý tứ “thế thái” mới, không đùa.
“Đêm lập xuân” mang cái “thế thái” bàng bạc:
Những chuyện bông lơn
Vô tình vận vào trời đất
Đồ vật tự chuyển dịch
Lắt lay bóng núi
Chim kêu gió thay mùa

Nhưng những chuyện trong “Biết thì sống” thì tưởng bình dị mà lại độc đáo vô cùng.
“Cái miệng bất tử” thì độc đáo ngay từ “giây phút đầu tiên”:

Cái miệng đang trôi kia chắc của người đã chết
lúc trên cao
lúc chạm vào mặt đất.

Bộ xương của cái miệng giờ tan vào cát bụi?
vẫn vàng ươm?
hay đã xỉn đen trong chiếc tiểu sành?

Nhưng cái miệng vẫn mấp máy sống động
khi mím chặt
khi nhoẻn cười độ lượng.

“Sống hồn nhiên” thì đã đạt đến thượng thừa của “ngôn ngữ robot”:

- Vợ tôi bảo muốn chữa bệnh đau đầu
- Vợ lại bảo dù trí tuệ uyên bác
- Vợ chồng thay nhau ngủ
- Muốn thoát ra ngoài phải cắn vỡ tiếng chim
- Tôi pha trà đem dâng cho cây

Tuy khá đồng motif với các tên robot “Người đương thời” và “Vẽ chân dung” nhưng robot “Thế thái” có một giọng thơ khác biệt. Những lời thơ thở ra cứ như cát bụi ngàn năm, như thể thế gian này ngàn năm không đổi, chỉ có cát bụi dơ dáy là cứ dầy thêm, dầy thêm mãi…

Thèm được thấy một mái tóc dài và dầy…
nhưng tuyệt nhiên không thấy đâu. Bọn robot thời đại quả thật vô tình.

Tôi mê những mái tóc dầy
Vì tôi luôn muốn sự đủ đầy!

Bọn robot! Sao chúng bay cứ tùy tiện quá đi. Tước đoạt hết cả. Chúng dẫm nát của ta trái tim. Chúng chà đạp lên tình yêu. Chúng thiêu đốt đến tàn rụi mọi cảm xúc của ta. Chúng cưỡng chế ta thành một loài với chúng. Chúng biến ta thành mớ sắt đồng nát.
Tôi không muốn đến Ô Chợ Dừa[4]
Vì chả ai muốn thành đồ thừa

Thôi chết! Hình như tôi cũng đã bắt đầu làm thơ robot? Hay là tôi đã thành robot? Hay tên robot nào đã nhập vào tôi?

ROBOT “CHẬP CHENG”

May thay còn có tên này.
Trong thế giới của những tên tỉnh rụi, bọn chập cheng là những anh hùng cứu nhân độ thế!
Tên này thật đáng kể! Hắn đẻ ra những bài sau: “Biến tấu con quạ”, “Còn cậu hãy đứng đằng kia”, “Đến trong ý nghĩ”, “Tỉnh táo tột cùng”, “Nếu”, “Chuyện còn dài” và “Giả thiết cho buổi sáng hôm sau”.
“Biến tấu con quạ” cho chúng ta lần đầu tiên cảm nhận được hơi thở mạnh mẽ của sinh linh trong toàn tập thơ này.

“Con quạ” đến như một tiên tri, một thiên khải:
Tử khí kéo ngọn bấc tới đỉnh trời
Con quạ rực sáng.

Linh thần thi ca này đã phải chịu “khai sinh” đến tận 4 lần. Đến lần cuối thì nó hiển hiện như một Ngôi Lời:

Khai sinh
Mực đổ dưới chân và máu
vón cục ở yết hầu, phế quản
Viết một nét lên trang đầu
thấm suốt cả ngàn trang sách.

Tôi ngay lập tức bị quyến rũ bởi sự khai sinh, thiên khải ấy.
Robot của Mai Văn Phấn đã vụt dậy, ngang với mọi mặt-trời-thơ với “con quạ” này. Quạ là “ác là”, “kim ô”, là mặt trời. Điềm trời đã tỏ.
Con-quạ-thơ bừng nổ ngôn từ:

Móc từ hốc mắt
những nhãn quan
Di ảnh là vật chứng
Mổ vào lưỡi
và kéo dài
Phơi dưới trời bài học khẩu ngữ
Bóc từng mảng thịt
Tháo rời tứ chi
Sổ tung lục phủ ngũ tạng
Và cuối cùng, cú “ra đi” mới tuyệt làm sao:
Con quạ khật khừ xuyên đêm
Thảng thốt kêu

Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại

“Không vọng lại”! Dứt được luân hồi là loài tiên thánh. Thơ cũng vậy!
Những ý thơ “chập cheng” cứ dồn lên như sóng,
trong “Còn cậu hãy đứng đằng kia”:

Có ai bên tai thều thào:
Hãy thức chờ xem rêu phủ bầu trời
Mặt nước ăn những vì sao cuối cùng.

Đêm nay
Rắn rết, bọ cạp tràn vào thành phố
Nhưng đừng sợ!
Nhà nào bây giờ cũng thiết kế kiểu lô cốt
Trời tối không ai ra đường.
trong “Đến trong ý nghĩ”:
Đôi mắt tấm liếp khoét thủng, cánh tay buồm chão, những bàn chân lá khô cong vênh lê trên mặt đất. Và miệng hắn, sâu hoắm, mở rộng, vỡ ra từng mảng để nung vôi.
trong “Tỉnh táo tột cùng”:
Ý nghĩ tôi muốn điều khiển con chuột chui ra từ cống hẹp
từ tốn bò vào thùng rác và nằm chết ngay ngắn
Xe chở rác đem những con chuột đi chôn
vĩnh viễn trong thành phố không còn chuột.

cùng những điều “liên thiên” khác trong “Nếu” (cũng nên ghi chú, bài “Nếu” này tuy cùng tên với một siêu thi phẩm của Nobel văn học 1907 Rudyard Kipling [1865–1936] nhưng mà khác nhau như Thiên đàng và Địa ngục):

Tôi ngủ trên giường
Con chó dưới sàn
cách tôi ba mét bảy mươi lăm xăng-ti.
Sau này vợ tôi đo và bảo thế.

trong “Chuyện còn dài”:
Con gián bò quanh tôi và nói
vừa đầu thai được 3 tháng tuổi
kiếp trước từng là người đàng hoàng.
và bài kết của cả tập “Giả thiết cho buổi sáng hôm sau”:
Về già ông ít nói
không buồn, không giận
suốt đêm ngồi câu bên vũng bùn
để di dưỡng tinh thần?

…..
Và, nên nhớ, có thi sỹ nước Anh đương đại, nhờ toàn làm thơ “chập cheng” kiểu như thế mà trở thành Thi Bá (King of Poets) của cả vương quốc oanh liệt ấy.

Vương quốc của thi ca đích thực, với tầm các thi bá, dường như không có chỗ cho một sợi nhỏ lý trí bình thường nào. Nói như nhà nhân học người Pháp lừng danh thế giới Claude Lévi-Strauss (1908~) là họ có một logic khác!

*

Lần đầu tiên người đọc Việt Nam được đọc thơ robot, điều đặc biệt là ngôn ngữ của chúng rất nghiêm trang. Robot đâu biết đùa, một đặc sản của người.
Những ý và tứ thơ có khả năng kích động cực mạnh.

Thơ Mai Văn Phấn chan chứa cả trời vô thức.
Ngôn từ mà Mai Văn Phấn đã ghi lại ấy xứng đáng được đi vào thơ ca Việt, vào văn học sử như một dòng thơ cách tân mãnh liệt nhất. Ngôn ngữ thơ ấy chưa ai từng viết. Nó mới lạ đến từng từ.
“Khuyến cáo của chính phủ”[5]: Những ai chưa chịu điên và đã chịu điên đều không nên đọc Hôm sau./.

4-5/10/2009

________________________________________
[1] Nhuệ Anh, “Khi máy tính làm thơ”.
[2] Bài hát nổi tiếng của D. Bowie viết cùng Reeves Gabrels, ra đời năm 1997.
[3] Diễn văn nhậm chức của Tổng thống Hoa Kỳ Obama.
[4] Nơi tập trung các hàng bán sắt vụn và đồng nát của Hà Nội.
[5] Khẩu hiệu này có trên phần lớn các vỏ bao thuốc lá hiện nay để cảnh báo mọi người đừng hút thuốc. Thế nhưng…

ĐÃ ĐĂNG:
http://vietimes.com.vn/default.aspx?tabid=427&ID=6459&CateID=255
http://www.talawas.org/?p=12029

Dương Kiều Minh

Hiện thực giả định và hiện thực tâm tưởng trong hai tập thơ mới của nhà thơ Mai Văn Phấn

* Không ai mở cổng
Nhiều người vẫn tìm được lối vào

(Biến tấu con quạ)
* Mỗi âm tiết lúc ấy hiện lên một sự thật. Sự thật hiển nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ thông

* Lời vô nghĩa mở ra tưởng tượng
(Anh anh em em)
* Thét lớn đến chết
Im lặng đến chết mà tái sinh thế giới

(Những bông hoa mùa thu)

Những câu thơ trên được trích dẫn từ hai tập thơ mới xuất bản của nhà thơ Mai Văn Phấn. Tập thơ “Hôm sau” do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành, tập thơ “và đột nhiên gió thổi” Nhà xuất bản Văn học xuất bản trong cùng mùa thu 2009.
Có thể là bất cẩn, khi tôi quyết định đưa ra giả thiết về mã khóa mà nhà thơ Mai Văn Phấn đã yểm trong hai tập thơ này. Biết rằng mật tự trong ngôn ngữ thi ca không phải bao giờ cũng giải được. Nhưng, như vậy không có nghĩa không có người tìm đến để giải, và mật tự cứ nằm im vĩnh viễn. Lý sự là vậy, nhưng thực tế có khác đi ít nhiều.
Điểm đầu tiên tôi tìm đến là tập thơ “Hôm sau”. Đây là tòa tháp được dựng lên bằng 27 câu chuyện kể. Bắt đầu là câu chuyện tiếp một người khách mà: Người nhà bảo ông mất đã bảy năm.../ Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi/ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt/ Chốc lại cúi gập/ (Vẫn trấn tĩnh tiếp khách ra ngõ).
Câu chuyện thứ hai: con ong bay vào phòng/ bằng nhựa hay bằng gỗ?/ nham nhở trên mình những vết cắt dở dang/ đúng nó đã bay/ tiếng vỗ cánh êm ru, hoàn hảo/ không nên tin vào một con ong/ tôi kiểm chứng bằng những cử động nhỏ (Không thể tin).
Câu chuyện thứ ba: Trong bóng tối, tiếng những nghệ nhân đã khuất cùng đồng vọng:/ - Hãy quay theo mái nhà đánh thức các đồ vật? / (…)/ Mọi người vừa quay vừa tỉnh dậy. Vẫn đủ thời gian uống nước và rửa mặt, chọn cho mình một đồ vật bất kỳ. Và nhanh chóng đặt chân vào vạch Xuất phát. (Quay theo mái nhà).
Câu chuyện về “Anh tôi”: lúc gần đất xa trời, anh nhờ tôi giữ hộ ký ức. Anh dặn đây là dữ liệu quý. Nhưng kho ký ức tôi đã đầy ứ, cả mốc meo, thối rữa/ (…)/ anh nhìn tôi buồn lắm! (Anh tôi).
Câu chuyện về một người đàn ông ra khỏi nhà: Lúc đi/ (…)/ chốt cửa gỗ/ kéo cửa sắt/ ông bấm năm chiếc khóa/ rồi ném chìa vào trong nhà/(…)/ lật đống chăn nơi ông vẫn nằm/ thấy mẩu giấy với nét chữ nguệch ngoạc:/ “Ai tìm thấy tôi ở đâu, gọi về số…/ Xin cảm ơn và hậu tạ (Đúng vậy).
Câu chuyện về “Bài học”. Câu chuyện về Cái lưỡi tôi bị thắt/treo lên đỉnh cột, và Đang nghĩ về chiếc lưỡi đau/chợt cánh bướm mọc trên bờ đá (Ở những đỉnh cột).
Câu chuyện về cái chết của nhà thơ, dịch giả Diễm Châu: Buổi sáng, ngày 28 tháng 12, mưa rơi/ Mưa lạnh thấu xương!/ Đất lạnh thấu xương!/ Lật trang sách anh còn để ngỏ/ tiếng trẻ con khóc trong vòm cây/ (…)/ Gió lùa về/ làm khăn trắng cuốn quanh gốc sú/ trên đỉnh trời linh cữu nhấp nhô (Giấc mơ vô tận).
Câu chuyện về “Đêm lập xuân”: Khêu ngọn đèn/ Từng bầy mũi tên bay qua mái nhà vun vút. Câu chuyện về Lũ trẻ xóm tôi biết quá nhiều về người lớn nên sớm mắc những căn bệnh tuổi già (Dạy trẻ con). Câu chuyện về một đêm nhiều điều kỳ quặc: Những giấc ngủ đã ngấm rượu độc/ trí nhớ rối mù, rồi Có ai bên tai thều thào: Hãy thức chờ xem rêu phủ bầu trời/ Mặt nước ăn những vì sao cuối cùng/ (…)/ Nhà nào bây giờ cũng thiết kế kiểu lô cốt/ trời tối không ai ra đường./ Sau lúc 0 giờ, nhà bên/ Một trí thức tỉnh dậy cười hềnh hệch/ Thú nhận những câu nói ban ngày là chuyện đùa/ Đùa dai thật!/ Ai đang rình nấp trên cây/ Chờ lá rụng hóa thành tiền bạc (Còn cậu hãy đứng đằng kia).
Câu chuyện về “Hắn”: Hắn cười, vung tay đấm qua lỗ thủng khoét sẵn trên tấm bìa, rồi Hắn liệng tấm bìa vào thùng rác, xuống tấn, đấm liên hồi vào lỗ thủng ước lệ, lao đi tốc độ chóng mặt. (Hắn).
Câu chuyện về “Hội chứng từ một tin đồn…”: “… Có mãnh thú bỏ rừng…”.
Câu về một cái thùng rác: trong thùng rác có bộ xương cá/ bị rỉa hết thịt trong tư thế đang bơi. Và, trong thùng rác có cánh diều giấy/ chồng lên bó hoa, dăm bảy đôi giày/ Gió vẫn thổi hồn nhiên qua ống sáo
(Nhìn kỹ).
Câu chuyện về ông trưởng thôn với chị thu tiền điện: đêm qua bị bắt quả tang/ đang ôm hôn ông trưởng thôn trong quán thịt chó… Lão chủ quán thịt chó... bị người khác đến nắm tình hình... / về đến ngõ vợ đã mắng té tát/ Bạc đầu còn ngu!/ Lão cay mũi/ ức đến tận cổ/ nhưng nghĩ đi nghĩ lại/ thấy đúng quá/ lén lút uống dăm ba chén rượu/ ra sân nhìn nắng lên (Biết thì sống).
Câu chuyện về con gián: Con gián bò quanh tôi và nói/ vừa đầu thai được ba tháng tuổi/ kiếp trước từng là người đàng hoàng/ Đàng hoàng sao chịu phận xẹp lép?/ Tôi không tin và đu lên khung cửa/ Thế nhân chứng đâu? Vật chứng đâu?/ con gián giơ một chân lông lá/ Ừ, thì tạm coi đây là cánh tay… (Chuyện còn dài).
Câu chuyện về ông già: Về già ông ít nói/ Không buồn, không giận/ Suốt đêm ngồi buông câu bên vũng bùn/ để di dưỡng tinh thần/ (…)/ Có thể dưới bình minh đen/ chất ngất những con cá đen/ Gió móc vào ông lưỡi câu có ngạnh (Giả thiết cho buổi sáng hôm sau). Và câu chuyện về “Biến tấu con quạ”. Đây là bài thơ kết tinh quá trình cách tân thơ Mai Văn Phấn. Bài thơ tụ hội đầy đủ những gì đã lắng đọng trong một thời gian không hề ngắn của công cuộc tìm tòi cách thể hiện mới, kiến tạo nên giọng điệu thơ Mai Văn Phấn trong dòng chảy của thơ hiện đại: Tử khí kéo ngọn bấc tới đỉnh trời/ Con quạ rực sáng/ */ Khai sinh/ Sau tiếng quạ kêu/ Ra đi không cưỡng lại/ Gói bọc được mở ra/ Sự băng hoại không thể cất giấu/ (…)/ Bổ nhào từ đỉnh cao/ Bằng đôi cánh sắc/ Lấy tâm điểm xác chết/ chém toác bầu không/ Gió hấp tấp không kịp băng bó/ (…)/ */ Con quạ mơ/ Mọi cái chết đều được sắp đặt/ Sau tiếng quạ kêu/ Ai đã tự nguyện nằm xuống (Biến tấu con quạ).
Ở tập thơ “Hôm sau” , mỗi bài thơ là một câu chuyện, như tôi đã tổng thuật có tính toát yếu ở phần trên. Có người hỏi: Đấy là sắp đặt hay là thơ? Lại có người hỏi: Đấy là thơ hay là ngụ ngôn?
Vấn đề không chỉ dừng lại ở tính ngụ ngôn hay sắp đặt, đối với thơ hiện đại, việc nhà thơ kế thừa những thể loại văn học có sẵn là không cần bàn cãi. Điều cốt yếu là ở chỗ, thơ hiện đại đã đổi thay những gì. Cái ta thấy gần nhất, nhưng lại không kém bề quan yếu đó là việc đảo lộn mọi quy ước phổ thông. Đây là bức tường thành thứ nhất cần phải vượt qua khi tiếp cận thơ hiện đại. Thơ Mai Văn Phấn không nằm ngoài từ trường đó.
Mỗi bài thơ của Mai Văn Phấn là một câu chuyện, những câu chuyện đó không theo quy ước phổ thông, tức không tuân theo thói quen sẵn có của tư duy. Hiện thực được giả định, được đập vỡ, được cày xới, được chiếu rọi từ nhiều phía cùng một lúc. Và khi ấy mỗi âm tiết hiện lên một sự thật. Sự thật hiển nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ thông. Và, ta cũng có thể nói rằng, giả định một hiện thực để tạo ra một hiện thực mới mang tính chân thực cao hơn cái hiện thực mà ta từng thấy.

*

Chuyển qua tập thơ “và đột nhiên gió thổi”. Chúng ta vừa đi qua một chặng đường dài nơi Khi qua khe cửa hẹp/ gió biển đang bắn vào từng mũi tên mát rượi. Giờ ta lại đang đứng trước một hiện thực không chỉ được giả định, mà là một hiện thực hiện lên từ tâm tưởng. Đó là điều chính yếu tôi muốn đề cập ở tập thơ này.
Hiện thực hiện lên từ đầu dây điện thoại: Khoảng cách với đầu dây bên kia là ruộng đồng, làng mạc, quang gánh. Là xe cộ, tháp dựng, rễ sâu. Giọng em không vượt qua mà làm cho chúng bé lại, mở thông những cánh cửa sang nhau (Nghe em qua điện thoại). Chợt thấy con đường/ Tự nghiêng trong đêm/ (…)/ Cả ngôi nhà lao đi chóng mặt/ Sửng sốt, rã rời khi gặp bình minh/ Anh bấm số điện thoại tưởng tượng/ để em biết mọi điều từ trong giấc mơ (Để nhận ra anh).
Hiện thực khi “Nhắm mắt”, “Bưng chậu nước lên cao”, “ra phố”, “tắm đầu năm”, và khi “ra biển”.
Mỗi cơ thể con người mở ra nhiều con mắt lạ, khi những nọc độc bị phong kín vĩnh viễn không tìm thấy đường ra. Nhắm mắt thấy em không rộn ràng như khi mở mắt. Nhưng sự im lặng của em vang lên những âm thanh kỳ lạ (Nhắm mắt).
Từng bậc cầu thang/ từng bậc khuôn mặt tôi/ và hơi thở hòa trong chậu nước/ (…)/ Lúc chậu nước lên cao/ những hình ảnh của em vừa hiện/ Đem ghép lại chẳng có gì đồng điệu (Bưng chậu nước lên cao).
Tôi mang giấc mơ ra phố/ Lúc ăn sáng thấy mình giống miếng mộc nhĩ/ sôi lên trong nồi nước dùng/ nồi nước sâu tám mét/ Vào thăm bạn trong ngõ hẹp/ biển số nhà giống miếng mộc nhĩ/ đang sôi trong nồi nước dùng/ Tiếng bạn vọng từ độ sâu tám mét (Chọn cảnh).
Thanh tẩy mãi vẫn không thấy sạch/ quay về tắm bằng ngọn đèn/ (…)/ Xối ánh sáng vào từng góc khuất/ góc khuất như lò thúc mầm/ (…)/ Vừa xối mạnh vừa gọi tên em/ ánh sáng bồng bềnh bụng mang dạ chửa/ thử gọi một ai xa lắc xa lơ (Tắm đầu năm).
Ra biển một mình/ nỗi nhớ buộc vào chân tóc/ cơ thể em trước đại dương phần phật (Anh anh em em).
Hiện thực của tình yêu được hiện lên như một nghi thức, sự gieo trồng, sự khai mở, và dâng hiến với giác quan nhiều chiều,... thét lớn đến chết/ im lặng đến chết mà tái sinh thế giới.
Yêu nhau. Là nghi thức dâng tụng trời đất (…) Đất rùng mình. Sông chảy. Ngàn vạn đọt mầm từ thân thể nở bung (Anh anh em em).
Lan nhanh, choáng ngợp đất hoang vừa mở/ Em đổ từng trận lũ dại cuồng/ (…)/ Nụ hôn nín thinh, tỏa nhiệt, khoan vào lòng đất (Bài hát mùa màng).
Anh thu mình bay vào vô tận/ ngọn tháp dâng cao giác quan nhiều chiều (Nơi trời rộng).
Anh mơ được em gieo trồng trên ngực/ Bàn tay dịu dàng vun vào da thịt (Bài ca buổi sớm).
Thân thể em sáng lên trong hương cỏ mặn mà/ Trong hoa cúc dại thắp dọc triền đê chi chít những cây nến nhỏ./ (…)/ Tỏa hương thanh khiết em bảo: Mình vừa tái sinh dưới đám mây bay (Những bông hoa mùa thu).
Bài thơ “Mưa trong đất” gồm 7 khúc. Bài ca ngân vang giai điệu của thiên nhiên, của tình yêu và của đất đai mùa vụ. Bài thơ đã phủ lên cánh đồng thi ca của Mai Văn Phấn một làn hơi ẩm trong trẻo mát lành. Một đời sống mới được hiện lên tinh khôi sau cơn mưa.
Những hạt mưa rơi xuống. Em nhắc chúng ta từng là giọt nước. Trong lành em rơi xuống anh./ (…) Lúc mặc áo chống nắng em giống cái kén di động trong phố. Xe cộ giăng giăng cùng những sợi tơ người (…) cái kén di động đi xe máy, nhắn tin qua điện thoại di động: “Em hop xong. Anh nho doi mu va uong nhieu nuoc”./ (…) Em xuyên qua từng bức tường nắng gắt. Qua những ngôi nhà như áo rộng thùng thình. (…). Thoảng nghe xơ xác những dọc hành trong cơn mưa đầu hạ. Tiếng cá quẫy giật mình đêm vắng. Và mùi rau thơm bịn rịn chân tường. (…) Bát canh nóng mở cửa phòng chật hẹp./ (…) Ẩn hiện không gian một chiếc bình lớn. Ai đang về giữa hạt sương trong. Tiếng sấm sâu hút. Cánh hoa mong manh vươn tự do… (…) Miệng em hé lộ khu vườn yên tĩnh (…) khu vườn bình thản trong mùa thu. Nhưng trên vai em mùa hạ vẫn ầm ào đổ xuống (…)/ Ta rực rỡ trong vỏ bọc đêm tối (…)/ Ta xoải mình trở thành người khác, làm hạt giống giã từ sân kho, bồ hóng gác bếp, giã từ thúng mủng, chum vò... lăn xuống đất đai (Mưa trong đất).
“và đột nhiên gió thổi” của Mai Văn Phấn là tập thơ tình. Trong tập nói nhiều về tình yêu, với nhân vật “em”. Ở đây ngoài nhân vật em – trữ tình, còn có nhân vật em – người vợ, với nghĩa vợ – chồng, “vợ tôi” (MVP). Trong thơ trữ tình của Việt Nam và của thế giới, nhân vật “vợ”, với nghĩa “vợ tôi” xuất hiện không nhiều, đặc biệt là trong thơ hiện đại, nhất là đối với thơ của các nhà thơ cách tân, ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài. Đây là một điểm rất khác biệt trong sự cách tân của nhà thơ Mai Văn Phấn được thể hiện trong tập thơ tình này.
Vợ tôi bảo muốn chữa bệnh đau đầu/ phải hồn nhiên như cỏ/ (…)/ Vợ lại bảo dù trí tuệ uyên bác/ nhưng chân tay ngại cử động/ cũng chẳng nghĩa lý gì/ (…)/ Tôi vắt sợi dây qua xà nhà/ buộc một đầu vào chỏm tóc/ cả lúc chăm chú đọc sách/ tay vẫn giật như culi kéo quạt/ Vợ chồng thay nhau ngủ/ quyết không làm người thừa/ vừa tư duy vừa cầm dây giật (Sống hồn nhiên).
Tôi ngủ trên giường/ con chó dưới sàn/ cách tôi ba mét bảy mươi lăm xăng-ti/ Sau này vợ tôi đo và bảo thế (Nếu).
Bảo tôi sợ hắn, không phải. Muốn thu nạp hắn, không. Hay lãnh đạm, trốn tránh, nể trọng… Cũng không, thế mà hắn đan lẫn vào tôi từng hơi thở. Vợ tôi giải thích: Trong âm có dương, trong dương có âm./ Hết tranh luận (Đến trong ý nghĩ).
Về đến ngõ vợ đã mắng té tát/ Bạc đầu còn ngu/ (…)/ Lén lút uống dăm ba chén rượu/ ra sân nhìn nắng lên (Biết thì sống).
Thoáng khuôn mặt vợ con trong khoảng lặng những quảng cáo thương hiệu (Đến trong ý nghĩ).
Điểm tôi vừa muốn nhấn mạnh và lưu ý về thơ tình của Mai Văn Phấn, không chỉ là câu chuyện người vợ với nhân vật “vợ tôi” - Đây cũng là điểm mới mẻ và khác biệt trong công cuộc cách tân của nhà thơ Mai Văn Phấn trong hai tập thơ mới xuất bản. Đây là một nét đặc trưng của tính truyện trong thơ cách tân của Mai Văn Phấn. Cái gọi là tính truyện của bài thơ là phương tiện để nhà thơ tiếp cận hiện thực, với cái nghĩa là cái hiện thực được giả định. Cái hiện thực đã phá vỡ, và được kiến thiết lại thích nghi với một đời sống mới. Chất văn xuôi trong thơ Mai Văn Phấn không hẳn nằm ở cú pháp, mà được đặt ở sự phóng to các chi tiết của hình ảnh, cùng với nội dung khác biệt bài thơ được khoác lên cái áo của tự sự mang tính phóng dụ.
Hiện thực được giả định là quyết định lựa chọn trong sự cách tân thơ hiện đại của Mai Văn Phấn. Sự giả định được thực hiện trong cách thức xếp đặt và phương pháp giải thích của bài thơ. Trong nó thu nạp và phát huy các yếu tính tự trào, tự giễu trong lối giễu nhại và phóng dụ. Cuộc sống luôn được kiến tạo bởi cái nghịch lý, cái không trật tự của hiện thực. Tự bản chất của sáng tạo thi ca, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý tưởng thơ nhằm làm phát lộ những bí ẩn trong vô thức và ở cuộc đời, với ham muốn không ngừng chiêm ngưỡng và vươn đến cái chưa biết, và cái vô tận.
Sự vật vốn tĩnh, con người vốn động. Trong thế giới thi ca Mai Văn Phấn cho thấy sự vật biến động không ngừng, còn con người thì tĩnh. Từ kết cấu của mỗi bài thơ, cho tới nhịp điệu thơ Mai Văn Phấn, luôn hòa vào dòng chảy của những nghịch lý với tốc độ chóng mặt, tốc độ của “những mũi tên vun vút”. Nếu ai đó có vấn đề về khí và nhịp tim, khi đọc các chương 24, 25, 26 trong bài thơ dài “Những bông hoa mùa thu” của Mai Văn Phấn, rất nên cẩn trọng, nếu không muốn phải thở hỗ trợ bằng bình ô-xy. Bởi ba chương thơ trên, mỗi chương chỉ là một câu quãng 170 từ, không có ngắt câu bằng dấu chấm, phảy, mà phải đọc một mạch, một hơi.
Thơ hiện đại mang trong mình cường độ và tốc độ của xã hội hiện đại, đối với những ai có sức khỏe không tốt, cần có lời cảnh báo trước. Đây cũng là một đặc trưng, rất nên tham khảo khi tiếp cận và thích nghi với thơ hiện đại. Đọc thơ hiện đại, đôi khi cần phải luyện tập, bởi nó liên quan trực tiếp tới thói quen của tư duy và thể lực của cơ thể. Hai tập thơ mới của nhà thơ Mai Văn Phấn, giúp tôi quả quyết đưa ra ý kiến này, mà tôi đã định bỏ qua.

DKM.

ĐÃ ĐĂNG:
+ Báo Văn Nghệ Công An, số 114, ra ngày 19/10/2009.

+ http://trannhuong.com/news_detail/2695/HIỆN-THỰC-GIẢ-ĐỊNH-VÀ-HIỆN-THỰC-TÂM-TƯỞNG-TRONG-HAI-TẬP-THƠ-MỚI-CỦA-MAI-VĂN-PHẤN

+ http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=11105&LOAIID=28&TGID=843


Nguyễn Hoàng Đức

Mai Văn Phấn, ngòi bút phiêu lưu giữa những biến cố của tâm hồn

Trong những nhà thơ đất cảng Hải Phòng, thú thực chỉ có hai nhà thơ khiến tôi giật mình. Người thứ nhất là Dư Thị Hoàn, tôi bất chợt đọc một hai bài thơ đăng trên tạp chí nào đó, thấy một giọng điệu thơ thật khúc chiết, thâm sâu, trải nghiệm, và mang cả cảm quan vũ trụ.
Người thứ hai khiến tôi giật mình chính là nhà thơ Mai Văn Phấn. Thật ra, chữ giật mình không đúng lắm, vì đó chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi, trái lại tôi đã chiêm nghiệm cả hành trình mà Mai Văn Phấn lầm lũi đi xuyên qua những địa tầng, khai sơn phá thạch, để mở lối cho đường thơ của mình. Có một nguyên tắc thẩm định mỹ học rất thống soái rằng: người ta không thể làm ngơ hay thiếu tin tưởng về một tác giả đang có trình độ và phong độ mỹ học.
Tức là một tác giả đã đạt đến một trình độ nhất định, lại đang có phong độ, thì dường như chẳng thể nghi ngờ tác phẩm của tác giả đó lại có thể xuống cấp thành thứ dở ẹc được; trái lại, tác phẩm đó tương xứng với tác giả của nó, hoặc cao hoặc thấp một tẹo, nhưng đó là một giá trị tương đương, xấp xỉ. Cây nào sinh trái ấy mà. Đó là một cách nhìn tham chiếu của tôi để suy luận rằng: nhìn hành trình của tâm hồn trăn trở đi tìm thơ qua những cung bậc và giai đoạn của Mai Văn Phấn, ta thấy ít ra tác giả đã ghi dấu và gây tin tưởng về con đường, cũng như cách đi đường khá dài, khá xa, khá cheo leo, khá vượt mình... trên đó những dấu mốc đã được cắm lên. Cụ thể, tác giả đã ra những tập thơ: Giọt nắng (1992), Gọi xanh (1995), Cầu nguyện ban mai (1997), Nghi lễ nhận tên (1999), Trường ca Người cùng thời (1999), Vách nước (2003), Hôm sau (2009), và đột nhiên gió thổi (2009). Rõ ràng, đây không phải một tác giả chỉ yêu thơ theo lối ngâm vịnh, mà là người miệt mài, hăm hở, nhiệt thành, phấn khích không biết mệt để đặt ra những dự phóng cũng như dõi mắt liên lỉ về phía chân trời thơ trong thế giới tâm hồn cũng như mục đích của cuộc đời mình. Hành trình đó tôi không chỉ “chứng nghiệm” trong những trang thơ mà cả ngoài cuộc đời.
Lần đầu tiên tôi gặp họ Mai ở nhà một anh bạn thơ lâu niên, anh Phấn đi cùng vợ. Thoáng nhìn tôi chợt nhủ: một người chồng đang hạnh phúc thế kia làm sao có thể trở thành một nhà thơ được, vì có một phương ngôn rằng “Một nhà thơ giỏi thì phải là một ông chồng tồi”. Tôi còn nghĩ chắc đây là một anh tỉnh lẻ khăn gói lên kinh đô để cải thiện cho danh vọng văn hoá của mình.
Nhưng Mai Văn Phấn đã không dừng bước ở vạch xuất phát đầu tiên, cứ thế anh liên tục phá đường đi về phía trước. Trung bình cứ hai năm anh cho ra đời một tập thơ, không phải theo lối bôi chữ lên giấy một cách hình thức để che đậy sự sốt ruột hay trống rỗng của tâm hồn, mà mỗi tập thơ của anh đều là một cuộc nhảy vọt khỏi chạm vạch đích của tập thơ trước. Phải nói, anh đã thể nghiệm rất nhiều bút pháp thơ từ cổ điển đến các khuynh hướng thơ hiện đại thế kỷ hai mươi và thơ văn xuôi. Tất cả đều được cày xới, chiêm nghiệm, chìm đắm đến nhuần nhị. Đọc thơ anh, có cảm giác bình thản như một nhạc công đã tu luyện thành thạo và dễ dàng biểu diễn những khúc nhạc khó nhẹ như lông hồng.
Mới đây, gặp Mai Văn Phấn lên Hà Nội, nhân đem hai tập thơ mới là “Hôm sau”“và đột nhiên gió thổi”, trước mặt các bạn thơ Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Lương Tử Đức... tôi đã nói rằng: nhìn hành trình thơ và diện mạo sống động của Mai Văn Phấn hiện giờ, tôi thấy rõ anh đã hành trình ngược đến thơ. Đó là anh đi từ vai cán bộ, trở về thường dân, rồi vòng lên tu sỹ ngồi thiền, rồi đến nhà thơ. Đây là một hành trình có vẻ “bại trận” ở cuộc đời, ai lại mong từ cán bộ trở về dân đen trong khi người ta mong được thoát ly như sự nâng cấp cho cuộc đời. Nhưng với thơ thì đây là một hành trình tiến bước và leo cao, bởi lẽ: cuộc đời càng thoát ly khỏi vai vế ưu tiên thì tài năng của con người càng trưởng thành. Và trong muôn người cầm bút hiếm hoi lắm mới thấy một nhà thơ Mai Văn Phấn cởi áo quan mặc áo vải nhà thơ. Đó cũng là lý do chính yếu làm cho tác giả tự nuôi dưỡng và truởng thành trên con đường thơ của mình.
Bàn về nhà thơ thiết thực hơn là bàn về văn bản thơ, đó là sản phẩm để mà “xem quả biết cây”. Con người chỉ có thể trưởng thành nhờ lý trí. Và lý trí thể hiện nó cao nhất qua việc phản tỉnh chính mình. Trong bài “Ở những đỉnh cột”, tác giả đã treo chiếc lưỡi của mình lên: Lưỡi tôi bị thắt/ treo lên đỉnh cột/ mỗi lần nói/ chiếc lưỡi phải co rút/ kéo thân thể béo ị lên cao/ Tôi giẫy giụa tựa mảnh vải quẫy trong gió mạnh.
Một đoạn thơ rất ngắn, nhưng ở đó tác giả đã thể hiện khả năng mỹ học và biểu tượng rất cao. Lưỡi là biểu hiện của ngôn ngữ, nó cũng là trí tuệ, cũng là khả năng gia nhập vào công lý, lương tri, nhưng nó bị phản tỉnh bằng cách treo lên. Treo lên đâu? Không phải treo lên hàng rào, cửa sổ hay chỗ nào khác mà là treo lên đỉnh cột, nghĩa là nó tự vấn bằng một chuẩn mực cao nhất, chứ không phải thứ vu vơ.
Cuộc phản tỉnh luôn thường trực trong con người tác giả, đến mức lúc nào anh cũng thấy mình bị phân thân thành hai nửa, nửa nọ đang dò xét nửa kia: Hắn thường đến với tôi trong ý nghĩ./... /Bảo tôi sợ hắn, không phải. Muốn thu nạp hắn, không. Hay lãnh đạm, trốn tránh, nể trọng... cũng không. Thế mà hắn đan lẫn vào tôi từng hơi thở. (Đến trong ý nghĩ).
Từ khao khát phản tỉnh, tác giả luôn mở to cặp mắt tra xét vạn vật và thế giới, muốn chúng trở về là thế giới thật, là môi trường sống lành mạnh cho tâm hồn: Con ong bay vào phòng
bằng nhựa hay bằng gỗ?.../ Nhưng hình như/ mọi con vật trong nhà/ vẫn chế tác từ đồ phế thải: con mèo tam thể được sinh ra từ mớ giẻ rách?/ con cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ lon beer?/ chim họa mi hót trong lồng là chiếc ấm vỡ?/
(Không thể tin)
Hoặc: Đêm tỉnh dậy. Đồ gỗ trong phòng mọc tua tủa nấm nhĩ. Bức tượng chảy xệ xuống thành nắm đất nhão... Tôi quay cùng chai lọ, con giống, bóng đèn… qua môi người thợ thổi thủy tinh, qua con chữ rùng mình nhìn bột giấy chìm trong thuốc tẩy... Bóng tối nuốt sạch thực phẩm ôi thiu... Hương trà thơm về rừng. Nước gào thét trong chiếc ấm bục đáy. (Quay theo mái nhà).
Cuộc phản tỉnh thật bức xúc và mãnh liệt, đến mức ngay cả ở đáy ấm, người ta cảm giác như trong cơn xoay vần cực bĩ của càn khôn: Nước gào thét trong chiếc ấm bục đáy.
Cuộc phản tỉnh không phải cách ngao du hay làm huyên náo để tâm hồn đỡ buồn, mà tác giả luôn truy xét, chiêm nghiệm, và soi thấu nghiêm khắc chính mình qua những bài học làm người. Trong bài “Bài học” tác giả viết: Cánh và khuỷu tay vẫn cứng/ Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm/ Đạo mạo múa tay trong bị/ .../ Đạo mạo giết một con muỗi/ Đạo mạo phát biểu chung chung/ Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng/ Đạo mạo lấy trộm áo mưa/ .../ Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang/ Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học/ Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương/ Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác/ Đạo mạo đánh tráo bài thi/ Đạo mạo tiêu tiền âm phủ...
Trong truyện ngắn “Hóa thân”, tác giả Franz Kafka nổi danh hàng đầu thế giới đã tìm cách cứu vớt sự xuống cấp của con người bằng cách phản tỉnh: chàng trai kia khi ngủ tỉnh dậy thấy mình là một con bọ, chàng cử động những cái chân của con bọ một cách vụng về nặng nhọc, rồi suy ngẫm về bản thân mình. Mai Văn Phấn bằng con đuờng của mình đã hạ mình xuống ngang loài gián để phản tỉnh tư cách của mình: Con gián bò quanh tôi và nói/ vừa đầu thai được ba tháng tuổi/ kiếp trước từng là người đàng hoàng/ .../ Con gián giơ một chân lông lá/ Ừ, thì tạm coi đây là cánh tay/ .../ tôi và con gián cùng hội thảo khoa học/ cùng đeo khẩu trang, cùng ngắm hoa/ .../ Con gián và tôi từ giờ sòng phẳng/ Nó chui ra. Tôi vô cảm./ Nó gặm nhấm. Tôi ngập chìm./ Nó leo tường. Tôi thù vặt./ Nó bài tiết. Tôi ăn gian./ (Chuyện còn dài).
Tất nhiên tác giả không phản tỉnh để tâm hồn tập trận giả bên thiện bên ác, mà để khao khát về một thế giới tốt đẹp. Trong bài “Nếu”, tác giả viết: Tôi mơ:/ đêm ngủ không cần khóa cửa/ ra đường chẳng ai lừa mình/ họ nghĩ sao nói vậy/ thoáng món ăn ngon và nắng đẹp/ Thật tội nghiệp con chó!...
Người phản tỉnh sẽ trưởng thành. Và chính nhờ hành trình phản tỉnh liên tục của mình, Mai Văn Phấn đã trưởng thành ngòi bút mỹ học. Tác giả thật sâu sắc và thấu đáo khi biểu hiện sự trưởng thành đó qua bút pháp mỹ học ở bài “Ghi ở Vạn lý Trường Thành”: Mây xếp lên vai từng tảng đá nặng/ nhòe mắt cát/ thở đầy ngực cát...
Mây là vật mỏng mảnh, nhẹ nhàng, bồng bềnh bay, vậy mà tác giả thấy nó xếp lên vai từng tảng đá nặng, đó hẳn là những hòn đá của bổn phận lịch sử, trong một không gian khó khăn toàn cát là cát. Và: Vạn lý Trường Thành còn xây dở?/ Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ/ Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ/ đánh hộc máu mồm...
Trong nỗi gian khó lao công của những người phu phen, phải vác đá xây thành, vậy mà tác giả vẫn chắt ra từ hàng hàng đống đá chất ngất đó một cái nhìn mỹ học vừa vác đá vừa làm thơ, thật hiếm lắm thay. Những phu phen lam lũ nặng nhọc đang: Còng lưng đẩy nắng đi/ Chồn chân đẩy gió đi/ Miễn sao gần được bông hoa/ đang mởn mơ trong gió lớn.
Ý tưởng mỹ học ở đây rất nhất quán, không hề vu vơ, ngẫu nhiên chút nào, bên trên thì vừa vác đá vừa làm thơ, bên dưới là cảnh tìm mọi cách để đến gần bông hoa.
Và những ý tưởng hay giấc mơ về cái đẹp của bài thơ hay bông hoa, không thể là biển chỉ đường dẫn người ta đến cõi thiên thai xa đời, thoát tục... mà tác giả muốn biến chúng thành tấm biển chỉ đường về thực tại. Thực tại làm người. Thực tại nhân văn dù đã trải qua cả nghìn năm vẫn tươi rói hơi thở, vết thương, cũng như bài học lịch sử cho thế giới nhãn tiền: Đây là đỉnh trời
hay đáy vực sâu/ chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát.

Và thêm một lần nữa ở hai câu cuối, ý tưởng mỹ học của tác giả lại thể hiện sự nhất quán một cách trọn vẹn: Mồ hôi du khách trên đá xám/ nở thành hoa phù dung.
Bằng cách tự đào luyện mình công phu, rất sâu sắc, cộng với vốn văn hoá tích luỹ phong phú, Mai Văn Phấn đã sáng tạo ngôn ngữ thơ chắt lọc, cô thấu và tinh tế. Nó không đơn giản, nôm na như nhiều nhà thơ còn mang nặng bản năng với ngôn ngữ tranh – tre - nứa – lá. Trong tập thơ “và đột nhiên gió thổi”, anh viết nhiều về tình ái trực tiếp, nhưng ngôn ngữ rất tế nhị, không thô lỗ trần trụi, dẫu vậy vẫn hừng hực mạch dập của khao khát cháy bỏng:
Nhắm mắt thấy em không rộn ràng như khi mở mắt. Nhưng sự im lặng của em vang lên những âm thanh kỳ lạ, mách bảo tình yêu đã thấm vào cây cối, đường xá, phố nhà, vào vườn tược, ruộng nương, sông suối... Từ nay ta không cần nghi ngờ điều gì khi nhắm mắt. (Nhắm mắt).
Hoặc: Đừng trôi lại gần đám mây đẫm xăng/ Dù cố giấu đi mười ngón tay có lửa/ Những lưỡi gió thơm tho luồn vào lỗ tai/ Ấp lên hoang sơ giấc mơ của cỏ. (Dấu vết bình minh)
Trong tập này, tôi đặc biệt yêu thích sức bật trong bài thơ “Mùa xuân”. Nó mở đầu bằng một tứ rất bình dị: Có nhiều dấu hiệu Mùa xuân/ Mây nặng. Hoa đào. Củi mục. Đường trơn.../ Tôi chỉ dẫn các con như vậy./ .../ Con tôi kẹp ngón tay thổi hồi còi dài/ gọi đoàn tàu xuyên qua ngực tối...
Bài thơ vẫn tiếp tục bình dị chuyển động như nhịp đập của thời gian, nhịp của mùa: Tạm biệt mùa Đông!/ Tạm biệt mùa Đông!/ Các con tôi đang tranh luận về thời khắc...
Mấy câu thơ trên thật giản dị nhưng lại hàm xúc một cuộc sắp đặt “lập thể” tuyệt vời. Đó cũng là cách cựa mình để chuyển tiếp nhịp điệu của bài thơ: Các con tôi đang tranh luận về thời khắc. “Tranh luận”, đó là biểu hiện của lý trí. Lý trí đó lại là của những đứa trẻ. Và trong một câu ngắn như vậy, tác giả biểu lộ được khát vọng tiến bộ và lý trí của không khí gia đình gắn với sự vận hành của thiên nhiên vũ trụ. Và bài thơ bỗng ngân lên chói loà, lộng lẫy cảnh sắc tươi tắn tinh khôi của mùa xuân: Ấy là lúc bông hoa đỏ rực vô tình rơi trên mặt nước/ hay những linh hồn được thanh tẩy bay lên?/ Là mây trắng bỗng trôi qua bàn tay ấm áp/ hay hơi ẩm nghẹn ngào đang vỡ ra từng tiếng chim non?
Câu cuối cùng ... hơi ẩm nghẹn ngào đang vỡ ra từng tiếng chim non nổ ra một sức mạnh thật kỳ diệu. Chúng phát ra chẳng khác gì những vụ nổ big bang ngay giữa lòng cuộc sống với mùa xuân đang tái tạo càn khôn trong sức mạnh phục sinh của mình. Sự sống ngập tràn và mãnh liệt dâng lên ở khắp nơi, đến độ, mỗi hơi ẩm có thể vỡ ra từng tiếng chim non.
Nhưng bài thơ kỳ vĩ nhất của tập thơ lại là bài “Những bông hoa mùa thu”, gồm 27 khúc, dài 60 trang. Nó quả giống một bản giao hưởng về sức mạnh, khao khát, cũng như thể nghiệm hân hoan của tình yêu. Ở đó khúc nối khúc kéo vệt dài một ái tình thật mãnh liệt: Ngựa hoang tung vó trên thảo nguyên/ kéo mây làm gió, sấm chớp/ .../ Biến anh thành bó đuốc, que diêm, sáp nến.../ Đôi môi thiêu đốt những vùng đất rộng/ Cặp mắt vằn vện hung dại/ nổ tung từng trái cây đơn độc...

*
Mai Văn Phấn quả xứng đáng là nhà thơ hiện đại. Theo cách rằng: các nhà thơ cổ điển dùng chữ để biểu hiện cuộc nhào lộn của tu từ pháp. Còn nhà thơ hiện đại dùng chữ để biểu tỏ ý nghĩa của mình, hay cái mình muốn nói.
Nhưng có một sự thật như nhiều nhà thơ, và các phê bình gia đã từng thừa nhận: dù thơ cổ hay thơ tân, thì cái độc giả nhớ về nhà thơ nào đó lại phải ghi dấu ở câu nào hết sức cụ thể. Chẳng hạn với tôi, tầm vóc của Walt Whitman dường như chỉ cần đánh rơi hai câu là đủ: Nếu bạn muốn tìm tôi/ Hãy tìm dưới đế giày của bạn. Và: Anh cùng tôi không một xu dính túi/ Vẫn mua được hương thơm của trái đất này...(nhưng chớ lầm lẫn những câu thơ tủn mủn có thể đủ cho tầm vóc của một nhà thơ lớn. Vạn Lý Trường Thành vĩ đại chỉ vì nó quá dài mà thôi).
Đó cũng là điều chính yếu tôi muốn bàn luận với Mai Văn Phấn. Dù làm thơ thế nào, ngôn từ có lóng lánh bao nhiêu, ý nghĩa có sâu lắng kiểu gì... nhưng rất cần thiết phải có những phương ngôn “cứng”, càng nhiều càng tốt để chúng đóng dấu thi ca cũng như tên tuổi nhà thơ vào trái tim bạn đọc.
Với sức viết và văn hoá của tác giả, tôi mong anh cũng nên thử sức ở các thể loại khác như tiểu luận, truyện ngắn, tiểu thuyết... Đó không phải con đuờng văng ra khỏi trung tâm thơ, mà để trở về với thơ hoàn hảo hơn. Nhiều khi chúng ta đi rất xa, rất rộng, đại dương này qua châu lục khác, chỉ để trở lại thấy con đường về nhà càng da diết mà thôi.
Tất nhiên đây chỉ là mấy lời chia sẻ, bởi lẽ, đối với một tác giả có khả năng tự đào luyện mình như Mai Văn Phấn, thì mọi lời khuyên sẽ không cần thiết.
Chúc tác giả hành trình tiếp trên con đường thơ đang mở ra rất tương xứng với mình.
8/9/2009
N. H. Đ

ĐÃ ĐĂNG:
http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=11185&LOAIID=28&TGID=1821
http://vietimes.com.vn/default.aspx?tabid=427&ID=6454&CateID=255

Hoàng Hữu Các
Và đột nhiên gió thổi
Tôi đang viết những chương đầu cuốn tiểu thuyết “Cánh buồm nâu đã chết” thì nhận được tập thơ “và đột nhiên gió thổi” của Mai Văn Phấn "Nhà xuất bản văn học 2009". Tôi không thể không đọc một tập thơ có cái tên lạ và gợi đến thế.
Thơ Mai Văn Phấn như dòng sông mùa lũ, cuồn cuộn phù sa, dữ dội mà cuốn hút. Nếu ai không muốn lao động hết mình hẳn sẽ không đọc được thơ Mai Văn Phấn, chữ nào của anh cũng nặng, hằng số ảo trong từng con chữ rất cao. Giữa hai dòng thơ, giữa các con chữ là sự bất tận của những cảm nhận, những rung động tận đáy tâm hồn, những ấn tượng mạnh mẽ, có khi thành nỗi ám ảnh. "Tảng đá vụn rời tự bay theo gió thổi. Nghe sữa đọng trong từng ngọn cỏ, mắt thú dữ phát quang bóng tối, những giọt đắng chảy về túi mật, và tro than vùi xuống luống cày. Ta xoải mình trở thành người khác, làm hạt giống giã từ sân kho, bồ hóng, gác bếp, giã từ thúng mủng, chum vò... lăn xuống đất đai." (Mưa trong đất). Và: "Mảng tường giờ đây vẫn còn khô ráo. Gió quét sạch con đường trước cửa. Mặt đất còn hằn những nếp nhăn khát nước, xoè ngang trời những đường chỉ tay.”
Hay: “Hạt mưa đầu tiên hay ngón tay em chạm vào khung cửa, xuyên qua khoảng không còn ấm nóng mặt trời." (Những bông hoa mùa thu). Có rất nhiều những câu thơ như thế trong tập “và đột nhiên gió thổi”. Những câu thơ luôn gây bất ngờ, đọc câu trước không lường được câu sau Mai Văn Phấn viết gì và vì thế mà ta thật thú vị. Trước dòng sông mùa lũ, ta nhìn thấy sắc đỏ phù sa mà khó đo lường độ dày và trọng lượng của trầm tích. Thơ Mai Văn Phấn cũng như vậy, đọc anh thật không dễ, mỗi bài phải đọc đi đọc lại 2-3 lần, thậm chí nhiều lần. Mai Văn Phấn không giỏi làm thơ cho hàng triệu người đọc. Thơ của anh là dành cho số ít, thậm chí rất ít. Rất ít người đọc được anh, càng rất ít người cảm được cùng anh. Thơ anh rất khó thuộc lòng, nhưng cũng rất khó quên, nó theo ta mãi, ám ảnh ta mãi. Đọc anh, tôi tự thấy mình thèm viết hơn và cũng biết rằng viết sẽ khó hơn, khi đột nhiên gió thổi.

Đã đăng:
http://hoaikhanh.vnweblogs.com/post/2810/184241#comments

Nhà thơ/ nhạc sỹ Vĩnh Phúc giới thiệu trên Webblog

MAI VĂN PHẤN VỚI “ HÔM SAU” & “ VÀ ĐỘT NHIÊN GIÓ THỔI“


Mai Văn Phấn, Thi- sĩ- làm –thơ- bên -bờ -biển, đã bước qua ngũ thập nhưng nội lực vẫn sung mãn tràn trề. Sau các tập thơ: Giọt nắng (1992), Gọi xanh (1995), Cầu nguyện ban mai (1997), Nghi lễ nhận tên (1999), Trường ca Người cùng thời (1999); Vách nước (2003), MVP lại tiếp bước với Hôm Sau (quý 2/2009) và và đột nhiên gió thổi (quý 3/2009).

MVP đã có mặt từ lâu trên thi đàn, thành danh không phải ở chỗ nhiều giải thưởng hay thơ được chuyển ngữ ra tiếng nước ngoài mà là một trong số khuôn mặt thơ canh tân với những bứt phá ngoạn mục. Nghệ sĩ là người liên tục vượt qua những cuộc “vong thân” để hoàn thiện mình (MVP trả lời phỏng vấn).

MVP đã kiến trúc mình trong lặng im, lặng im của tâm thức, của cảnh giới và trí huệ. Nếu “Hôm sau” là cánh cửa khép lại bên trong những ngờ hoặc, bóng tối đen nhẻm, những giấc mơ và bầy quạ đen rúc rỉa, với Hắn bãi phế thải của giẻ rách/ băng vệ sinh/giày dép lạc mốt…thì “và đột nhiên gió thổi” lại mở ra với mơn mởn xanh bông hoa cọng cỏ, mưa trong veo, với nhịp điệu mùa màng sinh sôi và với em con sâu đo em đu lên người anh…

Hãy đọc MVP trong lặng im và để thơ cuốn ta đi với nhịp điệu của cảm xúc nội tại, với tầng tầng ngôn ngữ đa chiều và những xếp lớp hình ảnh lạ lẫm đến bất ngờ kiểu như …em gieo trồng trên ngực/Bàn tay dịu dàng vun vào da thịt …hay …Bổ nhào từ đỉnh cao/ Bằng đôi cánh sắc/ Lấy tâm điểm xác chết/ Chém toác bầu không /Gió hấp tấp không kịp băng bó...

Nhà thơ Hoài Khánh giới thiệu trên Webblog

Với Hôm sau, nhà thơ Mai Văn Phấn thêm một lần tự đổi mới thơ mình

Tập thơ Hôm sau (NXB Hội Nhà Văn - 2009) của nhà thơ Mai Văn Phấn vừa được ra mắt bạn đọc. Chỉ có 27 bài thơ, qua những ngôn từ lạ và nền tảng xúc cảm có bề dày, tác giả tiếp tục cho bạn đọc có thêm một giọng điệu mới, một bầu không khí mới.

Tập thơ Hôm sau của Mai Văn Phấn là một cuộc tự đổi mới thơ mình, thêm một bước tiến mới của tác giả. Trong khi dòng chảy thi ca đương đại trong quá trình hội nhập có phần ít giao động, Mai Văn Phấn đang cố gắng tạo cho mình một sự bứt khỏi vết mòn xưa cũ và tiếp tục tự vấn bằng những thôi thúc trong chính sự hoảng loạn.

Mai Văn Phấn là một nhà thơ tiên phong cho việc cách tân thi ca trong cả nội dung và hình thức. Trong thi ca, hiện thực đời sống được viết đi viết lại nhiều lần nhưng vẫn nguyên nội dung, thì đó mới là dạng chất liệu. Nội dung phải là chất liệu đã mang một hình thức được xác định và hình thức không bao giờ tồn tại độc lập với nội dung của chính nó. Hình thức được chuyển hóa thành nội dung, đó là đổi mới thực sự.

Đọc tập thơ Hôm sau, vẫn thấy rõ giọng điệu riêng của Mai Văn Phấn. Điều mừng là, nhà thơ dù đủ dũng khí để nhận chân bản ngã, phủ định cái cũ trong chính con người mình, nhưng vẫn giữ được cái hồn cốt chỉ anh mới có. Hình như với Mai Văn Phấn, dù có cách tân thi ca đến đâu đi chăng nữa thì vẫn phải hướng con người tới cái cao đẹp. Phẩm cách của nhà thơ quyết định cốt cách của thi ca. Khi đã vững tin trong cốt cách, nhà thơ không ngại lao vào bất cứ vấn đề gì, kể cả những vấn đề vụn vặt.

Sự giản dị trong thơ luôn là khát khao thường trực và lớn nhất của tác giả. Nhà thơ Mai Văn Phấn mong sao chỉ bằng sự giản dị mà nói được những vấn đề lớn lao và mới mẻ. Với tập thơ Hôm sau, anh đã làm được khá nhiều.

.

Nguyễn Thánh Ngã

MƯỜI NGHĨ NGẮN VỀ THƠ MAI VĂN PHẤN (vừa đọc vừa nghĩ)

1 - Tôi đọc thơ Mai Văn Phấn, việc đó không quan trọng. Chỉ gặp nhau ở "Muôn pháp là một, một đi về đâu?". Hành tàng của anh là đây, chứ không phải ở một gương mặt đẹp không một dòng chữ. Bởi vì Mai Văn Phấn đã là quá đủ cho "một chiếc bình lớn". Tôi biết anh "đang về giữa hạt sương trong".

2 - Oh! sai rồi, Mai Văn Phấn đã tự thú: "Ta xoải mình trở thành người khác, làm hạt giống giã từ sân kho, bồ hóng gác bếp, giã từ thúng mủng, chum vò...lăn xuống đất đai" OK! cũng vậy cả, Phật dạy qua sông bỏ thuyền là chỗ nầy đây. Cái đại dũng của kẻ trí biết giã từ sân kho...giã từ thúng mủng..." để nhập cuộc. Ta không hề quên kỷ niệm, nhưng phải biết lớn lên!

3 - Mai Văn Phấn trở thành kẻ tự tại rồi: "một họa sĩ mới để râu đến chơi ". Ai đến chơi hoặc không đến chơi cũng được. Ở cái thời nghệ sĩ lung tung nầy hãy nhìn ngắm họ như một họa sĩ mới để râu, vừa ngây ngô vừa tội nghiệp, vừa bình thường vừa im lặng.

4 - Câu thơ này hằng đời người mới có: "Những ngọn thác câm lặng đang đổ xuống rất mạnh". Tôi không dám khen hay, mình là cái gì mà khen chê cho mệt. Nhưng câu thơ ám tôi và tôi đang gánh chịu cùng anh ngọn thác ấy. Vâng! rất dữ dội để xé toang những tầng xếp nếp cũ, gội rửa lớp biểu bì bám víu trong da thịt linh hồn.

5 - Đang có cuộc biến đổi khí hậu. Trong vụ " nổ... nhỏ" những cánh chim “ hốt hoảng vụt bay rồi mất hút vào đám bụi khổng lồ", " là tiếng nứt của tảng băng gặp không khí nóng”. Tín hiệu tận thế những cảm xúc giả tạo trong anh để chỉ còn một Mai Văn Phấn trong lễ giáng sinh trong vắt và hồn nhiên - một thế giới văn học không còn những bọn bẩn thỉu.

6 - Và HÔM SAU. Tôi tự hỏi: " hôm sau là gì nhỉ ?"- Tự trả lời " hôm sau là hôm sau của hôm trước". Mai Văn Phấn đã đến từ hôm sau để " mọi sự đảo lộn " trước. Lời nầy không phải của tôi mà của Kafka : "Thượng Đế không tới vào ngày cuối cùng mà tới vào ngày hôm sau ". Hôm sau hôm sau của MVP...

7 - Anh trở thành nhà thơ của " đảo lộn " để thấy rằng :" con mèo tam thể được sinh ra từ mớ giẻ rách/ con cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ lon beer ?/ chim họa mi hót trong lồng là chiếc ấm vỡ ?/ con chó dụi đầu vào tay mình là cuộn báo cũ ?/ đàn kiến đang nhẫn nại tha mồi là đống mạt cưa?

8 - Tờ khai sinh có dòng: "bóng đêm chui dần vào bụng con quạ " chính là kẻ thấu thị thời gian. Lê Đạt nói " giới thơ trẻ phải " khai phá " và " lập nghiệp " của mình . Thưa cụ, có MVP ! Kẻ được “chữ bầu lên nhà thơ”!

9 - Nhà thơ là gì nhỉ ? Là, kẻ "kể lại giấc mơ ". Không cần " Bất tri tam bách ...". Ngay bây giờ nhà thơ có thể sinh lại thành đứa trẻ. Không cần tuyến tính. Anh đã thấy nhà thơ là gì qua thông điệp giấc mơ, kẻ gánh lấy "nghiệp" trần thế . May sao nghiệp ấy cũng được "vài trống canh "...

10 - Bài cuối cùng là một "giả thiết". Giả thiết cho tôi không khen miệng lưỡi một tí: Bài thơ là niềm cô độc giải thoát, trí tuệ đã biến thành hồ nước rộng. Và hành giả (nhà thơ) là kẻ đạt đạo còn phải chịu nốt kiếp nạn bởi gió hóa hiện thành lưỡi câu có ngạnh. Da thịt thơ âm ỉ triền miên lời của Nietzsche: "Thượng Đế đã chết"!

Saigon 23/9/2009
NTN.

ĐÃ ĐĂNG:
http://www.vannghesongcuulong.org.vn/modules.php?name=News&file=save&sid=5731

Lê Vũ


“Bài học”& Phong cách Hậu hiện đại

Bài học

Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm
Đạo mạo múa tay trong bị

Tôi học bài này từ nhỏ
(Một lần bị khinh như mẻ
Thằng đạo mạo đạp mình xuống lề đường
Cạch đến già!)

Đạo mạo giết một con muỗi
Đạo mạo phát biểu chung chung
Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng
Đạo mạo lấy trộm áo mưa
Đạo mạo thở mùi hôi vào miệng người khác
Đạo mạo bọc nhầm một chiếc răng sâu
Đạo mạo tiểu tiện nơi công cộng
Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa
Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp
Đạo mạo xỉ mũi vào cửa kính
Đạo mạo moi tiền của gã ăn mày
Đạo mạo nghe trộm điện thoại
Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang
Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học
Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương
Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác
Đạo mạo đánh tráo bài thi
Đạo mạo tiêu tiền âm phủ
...

Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm.

(Trích Tập thơ “hôm sau”- NXB Hội Nhà Văn 2009)

Mai Văn Phấn

Lời bình:

Cánh chim bay qua trời chiều không để lại ngấn tích và thế giới, những kinh vĩ tuyến đen đỏ thì ngập tràn giả tạo với những bản sao, cả những bản nhân giống và đây là một hình mẫu:

Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm
Đạo mạo múa tay trong bị

Bài thơ mở ra với phác vẽ chân dung của hình mẫu “đạo mạo” đĩnh đạc đường bệ, lấp lánh ánh vàng hào quang kiêm đủ cứng mềm thâu tóm cả âm dương trong cái bị càn khôn còn khuất lấp bao nhiêu bí mật chưa giải mã. Hình như ai cũng phải ngưỡng mộ cúi đầu truớc cái cung cách cánh và khuỷu tay cứng, cổ tay & ngón tay mềm? Hình mẫu/ thần tượng được đặt lên bệ thờ chiêm ngắm, cuối cùng là sản phẩm của “cõi trên”, thuộc đẳng cấp (caste) trưởng thượng, khác biệt xa chừng bác nông dân bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, cũng tuyệt không giống anh công nhân tay quay tay búa, chị dệt vải se chỉ luồn kim. Họ ở đấy chăm chút bản thân mình nhưng những ngón tay co duỗi có gì đó máy móc, giả giả. Ám ảnh treo lên với ngờ hoặc…
Hốt nhiên ánh vàng lấp lóa như bị bôi bẩn, sạm lại, một mảng vỡ lở lói của thần tượng rơi xuống khi kìa kìa, bàn chân đạo mạo ló ra tung một cú đạp của bọn võ biền thô lỗ thích động tay chân.

Thằng đạo mạo đạp mình xuống lề đường

Bề trên bị gọi bằng “thằng”, đạo mạo cũng là “thằng” không khác. Tiếng cười bỗng lu lú đâu đó và đôi chân thần tượng run lên bần bật, muốn ngã. Cạch đến già! Cạch đến già! Nhà thơ sợ vì Quỷ thần kính nhi viễn chi, người trên cũng chẳng mê chi mà gần. Đó là chuyện đời, là lý sự muôn năm. Ngưu tầm ngưu, mã tìm mã. Vét- tôn chơi cổ cồn, chân đất chơi quần đùi chứ không thì loạn thế loạn tâm loạn nhịp. Đây là “bài học” đầu tiên mà Mai Văn Phấn (MVP) gửi đến chúng ta bằng chính trải nghiệm của mình, một kinh nghiệm đã phải trả giá nên thật đến 100%. Lở như có chung mâm cũng ly vỡ bình tan, có đồng sàng cũng dị mộng. Trên với dưới, cao và thấp là thuộc về giai tầng (classe) cần phân biệt rạch ròi bằng tiêu chí, tiêu chí bên ngoài và phong thái bên trong.

Nghiêm trang mà tếu táo, MVP xây dựng nhân vật của mình và cũng từng bước “giải trung tâm” xô đẩy hình tượng xuống bùn. Giơ cao đánh khẽ, tung rồi hứng, phết rồi va vết quẹt đập, ghi rồi xóa, xây rồi đập bỏ, ngòi bút của nhà thơ thiên biến vạn hóa, đeo đẳng tiếng cười và niềm hoài nghi triệt để. “Hậu hiện đại tháo gỡ vấn đề tha hóa bằng cách tháo gỡ luôn hiện thực” (Mikhail Epstein ) và MVP cũng từng lớp tháo gở mặt nạ của đạo mạo.

Đạo mạo giết một con muỗi
Đạo mạo phát biểu chung chung
Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng

Nhà thơ lật cổ tay, he hé cái bị còn niêm phong của đạo mạo. Này là cách ăn cách nói, cách chìa tay ngả mũ. Họ thực sự có phong thái không nhầm lẫn với đám đông tầng lớp dưới. Cẩn thận và cẩn thận trong từng động tác nhấc tay chứ không phóng túng ung dung quờ quào kiểu bình dân học vụ và dĩ nhiên, không thể hào sảng phát ngôn phát biểu như đinh đóng cột kiểu giang hồ ăn mặn nói ngay. Cả trong cách thế nghiêng/hạ mình cũng phải thận trọng, nghiêng đúng tầm, hạ đúng chỗ, lưng khum đúng nếp… Tuy nhiên, cách “phát biểu chung chung” rồi “trống rỗng” kia có cái gì đó bỗng gây nghi hoặc? Bức màn hoài nghi vén dần lên từ một góc sân khấu. Phải chăng đạo mạo nói kiểu ậm ừ gù gật vừa để lừa phỉnh và đồng thời giấu dốt, còn cách thế nghiêng đầu ngả mũ lịch thiệp cung nghiêm kính cẩn kia đích thị là cách quy lụy người trên đè bẹp dưới? Hình tượng ít nhiều đã méo mó và người đọc ở trong tâm thế ba phần hoang mang mấy phân lưỡng lự nên niềm kính trọng ban đầu trở thành xộc xệch. Hoài nghi cắm xuống cột mốc, định vị.

"Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật". (Biêlinxki). Vâng, MVP đang nói chuyện cuộc đời bằng cách thế nghệ thuật của mình. Không sơn quét tô vẽ bằng những ẩn dụ, ngoa dụ, MVP chắt lọc sàng sảy hiện thực, chọn lấy những chi tiết “cứ như nó là” và ghi lại bằng ngôn ngữ đời thường, không biểu tả những màu mè mỹ cảm, cảm xúc được giảm trừ tối đa.

Đạo mạo lấy trộm áo mưa
Đạo mạo thở mùi hôi vào miệng người khác
Đạo mạo bọc nhầm một chiếc răng sâu
Đạo mạo tiểu tiện nơi công cộng

Bây giờ thì không còn là cú lật cổ tay nhưng là cú giật chỏ vào hông sườn địch thủ. Mai Văn Phấn đã thực sự “giải trung tâm”, hạ bệ thần tượng ban đầu cùng một cách khi người ta kéo đổ những khối nhà cao tầng tại thành phố St Louis, bang Missouri năm 1972 (1). Thượng Đế đã chếtmọi chân lý đều mang tính hình ảnh, biểu tượng, là những ẩn dụ, hoán dụ, những ảo tuởng bị lãng quên (2). Quàng vào cổ nhân vật trung tâm của mình tấm băng rôn loang lổ sàm sít hôi hám ngu dốt phi nhân cách, MVP đã đồng hóa đạo mạo với bầy đàn dưới đáy xã hội: cũng vung vải trộm cắp vặt, phóng uế vỉa hè rồi phùm phum thở hơi bẩn thỉu… Rõ ràng, đạo mạo cũng là thằng, không khác và tiếng cười giễu nhại vang lên trong chuổi thanh âm ong óng đạo mạo đạo mạo những đạo mạo và ta mơ mang mơ máng mơ mịt mịt thực giả đen trắng xấu tốt.

Hoài nghi là tâm thế, châm biếm (irony), nhại giễu (parody) là giọng điệu của Hậu hiện đại và MVP góp giọng nói của mình ở đây, một cách sắc nét

Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa
Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp
Đạo mạo xỉ mũi vào cửa kính
Đạo mạo moi tiền của gã ăn mày
Đạo mạo nghe trộm điện thoại
Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang

Người họa sĩ biết chọn chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm (Pauxtopxki). còn nhà thơ Mai Văn Phấn là võ sĩ nhà nghề biết chọn đúng thời cơ, tung ra một cú nốc ao. Thần tượng cánh và khuỷu tay cứng, cổ tay & ngón tay mềm đã ngã chổng gọng và tiếng cười lần này thì không còn/ không cần kìm nén, cứ toang toác toang hoác cả miệng. Giễu Nhại (Parody) ở đây là một sự giễu nhại đôi, một sự giễu nhại có ý thức về chính sự giễu nhại nên giọt lệ chảy ra từ tiếng cười: Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang. Ôi đời đến thế thì thôi! Tôi nhớ Nguyễn Công Trứ và những Kẻ Sĩ một thời đã qua, lấy nhân gian làm việc của mình, tâm đầy chính khí, bụng đầy kế sách Kinh luân khởi tâm thượng/ Binh giáp tàng hung trung (3) mà muốn khóc cho những tên đạo mạo hôm nay chỉ biết chú ý cái trong đũng quần thế nào cho phổng phao, vò đầu bứt tóc kiếm kế moi tiền ăn mày, nói năng thậm thụt, đầy bụng bia bọt hải sản, chỉ giỏi dâm đãng, giả trá giả hình vờ vịt.

Vì lợi vì danh, vì địa vị, họ sẵn sàng ký & ký không cần biết hậu quả.

Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học
Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương
Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác
Đạo mạo đánh tráo bài thi
Đạo mạo tiêu tiền âm phủ

Vẫn một giọng giễu nhại, MVP biến cuộc thế này thành phi lý, là không có gì nghiêm trọng và mở ra những khả thể nhìn vào hiện thực. Đây là một cách nhìn mới, là cảm quan hậu hiện đại. Hiện thực thậm phồn (hyper-reality) ăm ắp nhếch nhác với đa tầng biến dịch rối loạn với nhân quyền, tính dục, bạo loạn máu me, đồng tính, tâm thần, tham nhũng, nghèo đói… thì chuyện “đạo mạo” ký văn bản dây máu ăn phần, ký hợp tác lâu dài, ký mua ký bán cả người ngợm trời biển… chỉ là chuyện vặt nên chi, ký một công trình khoa học, đánh tráo bài thi, bày vẻ làm thơ tình khoe của khi đã liệt dương là chuyện… cứ nhỏ như con thỏ. Cầm bút và phản biện, do vậy, là một nhu cầu tất yếu để xóa trắng hoài nghi những hoài nghi. Trong “Phác thảo ở bề mặt cuộc sống”, Inrasara cũng kịp thời ghi nhận đám đạo mạo, những cái mặt nạ, những tên người máy cứng đơ với nụ cười nửa miệng:

Những bộ mặt nghiêm trang nghiêm nghị
tôi thấy chúng thật nghiêm trọng
bộ mặt cứng đơ núp sau mặt nạ trang trọng
chúng đang giết chết văn hóa và làm thứ văn hoá chết

Nội dung phản ánh, những “Bài học” MVP muốn gửi đến nhân gian qua bài thơ, đã quá rõ ràng, có lẽ không cần phải diễn giải hay ghi chú. Vấn đề tôi lưu tâm ở đây là thi pháp, bút pháp thể hiện. Hậu hiện đại coi chừng là Hậu hại điện khi rêu rao tính dục bầy đàn nam nữ chuồng cỡi khoe mông má thịt đùi, là chửi bứa bừa bằng tất cả giọng điệu chợ búa, là nhân danh giải trung tâm, tháo gỡ cấm kị (tabou) để phóng trút vào thiên hạ đủ thứ ô uế tạp chất. Không, “Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người. (Nguyễn Văn Siêu). Nếu cứ cố tình nhắm mắt làm mới đổi mới bất chấp phương tiện, bất chấp cứu cánh, mặc kệ người đọc thì CÁI MỚI đó liệu ai sẽ chấp nhận và dung nạp?

Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp

MVP ở đây không tránh né đụng chạm đến những chi tiết trần truồng (nếu chi tiết thực sự đắt giá), cũng sẵn lòng dùng ngữ ngôn dung tục, đời thường, thực sự không dị ứng, không tách biệt phân cấp văn hóa cao/ thấp nhưng vẫn không bôi bẩn khuôn mặt thơ. Cho nên vấn đề theo tôi là LIỀU LƯỢNG, là CÁCH DÙNG ngôn từ đúng chỗ, đúng nơi, hợp văn cảnh thì Hậu hiện đại sẽ không làm người đọc ngoảnh mặt đi. Tôi không tin có bao nhiêu người đồng cảm với những giọt nước đái tí tách vàng hổ phách của Nguyễn Thị Hoàng Bắc dù đã nhiều nhà phê bình cất tiếng hưng phấn ngợi ca như một phong cách hậu hiện đại mới mẽ.

tiếng nước đái /nhỏ giọt/ trong bồn cầu tí tách/ thứ nước ấm sóng sánh vàng
hổ phách/ trong người tôi tuôn ra/ phải rồi/ tôi là đàn bà
(Ngọn Cỏ)

“Bài học” kết thúc, phơi ra thành tiếng cười dài, tiếng cười đầy nghi hoặc trong cái thế giới những bản sao áy náy làm người:

Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm.

Giễu Nhại, theo Hutcheon, là tính "tự ý thức, tự tương phản, tự giảm thiểu” cho phép nhà thơ đặt những câu hỏi về nguyên bản sáng tạo nghệ thuật, câu hỏi về giá trị căn cước bản thể cũng như mọi câu hỏi khác về ngày hôm nay và MVP đã tận dụng đẩy đến mút cùng của nhại giễu khi cắt phăng hiện thực bằng một nhát dao ngọt đến đầm đìa.

Với tập “Hôm sau”, mà “Bài học” là một thí dụ, MVP đã vượt qua chặng đường cũ, trưởng thành lên trong nhận thức thế giới với cảm thức hậu hiện đại. Nhà thơ thực sự đã tiếp cận thành công với người đọc thông qua văn bản, gợi cho họ một cách nhìn hiện thực, chào đón họ bằng nụ cười ý nhị và tôi tin, MVP sẽ được đón nhận dù đó là cánh bài xích Hậu Hiện đại.

Nhưng cuối cùng, phải chăng nên suy nghĩ như nhà văn Thạch Lam , “văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối, tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn". Phải chăng không cần phân biệt chủ trương với trường phái, hiện đại hay cổ điển mà nên chú tâm cái trong sạch và phong phú hơn của tâm hồn người?

Cam Ranh 27/10/09- LV

Ghi chú:

1- Một đoạn trong bài thơ Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ
Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi gian giai phận sự,
Nam nhi đáo thử thị hào hùng.

Việc chính trị đã định sẵn trong lòng; Việc giáp binh đã sắp sẵn trong bụng; Việc đời đều coi là phận sự của mình; Làm trai như thế mới đáng mặt hào hùng.

2- Mốc thời gian đuợc xem như chính thức mở ra thời kỳ hậu hiện đại.

3- Quan điểm của Friedrich Nietzsche.

ĐÃ ĐĂNG:
+ vanchuongviet.org
+ phongdiep.net

Nguyễn Việt Chiến

Mai Văn Phấn với những bài thơ hướng đến một trường-thẩm-mỹ mới


Mới đây, nhà thơ Mai Văn Phấn vừa gửi từ Hải Phòng lên Hà Nội cho tôi 2 tập thơ mới in của anh: “Hôm sau” (NXB Hội Nhà văn 7-2009), “và đột nhiên gió thổi” (NXB Văn học-quý III/2009). Tôi đọc liền một mạch hết 2 tập và điều cảm nhận đầu tiên là thú vị và ngạc nhiên. Thú vị là bởi cái giọng thơ nửa khôi hài, nửa kể chuyện theo kiểu thế sự hiện đại mà lại xót xa đau đáu trong tập thơ “Hôm sau” với nhiều bài thơ hay tới độ làm tôi phải “giật mình”. Còn ngạc nhiên là bởi khúc tụng ca tình yêu của Mai Văn Phấn trong tập thơ “và đột nhiên gió thổi” cho thấy khí huyết thơ anh vẫn còn trẻ trung, say đắm và tinh tế lắm. Cái đọng lại sau hai tập thơ mới này là một Mai Văn Phấn đã định hình một phong cách, một giọng thơ hiện đại sau chặng đường quyết liệt cách tân và đổi mới trong nhiều năm qua.

Thời gian trước đây tôi cho rằng, thơ hay (giống như một tấm gương phản chiếu) là loại thơ soi vào thấy mình, thấy cuộc sống con người hiện lên sinh động với các chiều kích khác nhau ở trong đó, còn thơ dở thì có soi vào mãi cũng không thấy gì. Còn thời gian gần đây tôi lại nhận ra rằng, thơ hay là thứ thơ làm cho người ta phải kinh ngạc và thật sự rung động bởi một ý tưởng mới, một suy tưởng mới, một sức sống mới đang làm nên những dạng thức mới của ngôn ngữ thơ. Và, bài thơ “Ghi ở Vạn lý trường thành” của Mai Văn Phấn là một trong những bài thơ hay khi nó mang trong mình một dạng thức mới của ngôn ngữ thơ: “Mây xếp trên vai từng tảng đá nặng/ nhòe mắt cát/ thở đầy ngực cát/ Vạn lý trường thành còn xây dở?/ Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ/ Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ/ đánh hộc máu mồm/ Khâm thử/ Ngước lên gặp một khuôn mặt bì bì/ Tay lạnh, mắt chì, giọng mỡ/ Mái Phong Hỏa Đài màu huyết dụ/ Hình thanh long đao dính máu đang kề cổ/ Còng lưng đẩy nắng đi/ Chồn chân đẩy gió đi/ Miễn sao gần được bông hoa/ Đang mởn mơ trong gió lớn/ Tâu Hoàng thượng/ thưa ngài/ báo cáo đồng chí/ Bỉ chức/ thảo dân/ em…/ Sẽ làm tròn bổn phận/ Đây là đỉnh trời/ hay đáy vực sâu/ chỉ thấy trên lưng lằn roi bỏng rát/ Mồ hôi du khách trên đá xám/ Nở thành hoa phù dung”. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một trong những bài thơ hay nhất của Mai Văn Phấn từ hai tập thơ vừa xuất bản.

Trong số những nhà thơ sung sức hiện nay đang có những cách tân được dư luận chú ý phải kể tới Mai Văn Phấn. Theo tôi, anh đã biết cách giữ được đặc thù của ngôn- ngữ -thơ trong chuyển động đổi mới của những con chữ. Đây chính là sự khác biệt giữa một số cây bút cách tân đã nhân danh cái mới để “lạ hoá” thơ đến mức phản –thơ với những tác giả có xu hướng tìm tòi nhằm nâng cao vẻ đẹp của ngôn- ngữ- thơ bằng những ý tưởng mới. Trong bài thơ “Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ” mở đầu cho tập thơ “Hôm sau”, Mai Văn Phấn đã dựng một tứ thơ khá mới lạ theo cách kể chuyện pha chút “liêu trai” khá dí dỏm, khôi hài: “Pha xong ấm trà/ quay ra/ ông khách không còn ở đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông mất đã bảy năm/ Nhầm lẫn (!)/ Nhà mình/ mọi sự đảo lộn/ Không nhớ bức chân dung hạ xuống bao giờ.../ Đâu rồi chiếc đồng hồ chạy bằng dây cót?/ Bộ ấm chén giả cổ ai cho?/ Ghé sang hàng xóm/ thử hỏi mấy loại thực phẩm/ loại tăng giá/ loại còn giữ giá/ Trong nhà/ Trà vẫn nóng/ Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi./ Luồng tử khí cao chừng một mét sáu mươi dựng đứng trước mặt/ chốc lại cúi gập”.

Trong đoạn thơ trên, cái hàm ý sâu xa mà nhà thơ muốn khơi gợi nằm chính trong sự xuất hiện “đáng ngờ” của một chân dung, một nhân vật không còn tồn tại trong đời sống nhưng vẫn luôn lảng vảng ở xung quanh chúng ta như một ám ảnh bắt ta phải nghĩ tới. Diện mạo chân dung ấy rất có thể là của một ông khách hàng xóm mà cũng có thể còn là một chân dung ngộ nhận nào khác, tùy theo sự liên tưởng của mỗi người.

Mai Văn Phấn nằm trong số ít các nhà thơ đã thành danh nhưng đang có những tìm tòi, cách tân thơ đầy hào hứng và quả quyết. Khoảng hơn một thập niên trở lại đây, anh và một số nhà thơ của thế hệ hậu chiến đã nổi bật lên như những cây bút tiềm tàng sức sáng tạo, hướng về những cách tân thực sự mang lại cho thi ca một hơi thở mới, một sức sống mới và một biến động mới làm lung lay những “nền tảng” cũ trong thơ trước đó. Trong bài thơ “Đúng vậy” của Mai Văn Phấn dưới đây, bạn đọc có thể tìm thấy dưới những câu thơ kể chuyện bình dị như đời sống lại có một thông điệp khác của nhà thơ về thế giới này: “Lúc đi/ ông mặc áo len màu cổ vịt, quần rộng đũng/ tóc cắt ngắn/ tay cầm sách/ ra gần cửa còn lẩm bẩm: sáng rồi tối..thối rồi thơm..bơm rồi xì..đi rồi ngã..vả rồi thương..ương rồi chín..nín rồi thét..kẹt rồi lơi..xơi rồi hóc..bóc rồi che..đe rồi chừa..đưa rồi quỵt..bịt rồi hở..lỡ rồi toi..moi rồi thấy../ chốt cửa gỗ/ kéo cửa sắt/ ông bấm năm chiếc khóa/ rồi ném chìa vào trong nhà/ Lật đống chăn nơi ông vẫn nằm/ thấy mẩu giấy với nét chữ nguyệch ngoạc “Ai tìm thấy tôi ở đâu, gọi về số…Xin cảm ơn và hậu tạ”/ sau mẩu giấy vẫn còn văng vẳng: quấy rồi đục..nhục rồi than..tan rồi huề..mê rồi tỉnh..thỉnh rồi buông…”.

Không ít người cho rằng giá trị “thật” của thi ca là phải có thơ “hay” chứ không cần thơ phải “mới” (thà “cũ” mà hay còn hơn “mới”mà dở!?). Nhưng một số người lại cho rằng, nếu các nhà thơ hậu bối cứ học hỏi, “bắt chước” kiểu viết của các đại thi hào ở những thế kỷ trước thì làm sao nền văn học Việt Nam có được những “giá trị mới” của thơ tiền chiến 1930-1945 còn ảnh hưởng đến tận hôm nay. Như vậy, mỗi thời đại đều có diện mạo thơ ca riêng của mình, mang hơi thở và sức sống của thời đại đó. Vì thế, những tài năng thơ ở mỗi một giai đoạn mới, dường như đều nỗ lực kiếm tìm những giá trị mới trong nghệ thuật, để cho thơ hành trình cùng với đời sống tinh thần của con người qua mỗi chặng thời gian.

Theo tôi, bản chất của sự cách tân và đổi mới thơ không chỉ nằm ở sự tìm tòi về mặt hình thức nghệ thuật cấu trúc của ngôn ngữ thơ mà điều thiết yếu căn cốt là ở sự đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ. Trong rất nhiều thế kỷ qua, các trường phái thơ lớn trên thế giới qua mỗi thời kỳ đều hướng tới sự tìm tòi và cách tân thơ. Điều khác biệt (và khu biệt nhất) để có thể nhận ra được các nhà thơ cách tân của mỗi thời đại có gương- mặt- thơ khác nhau như thế nào chính là ở nội dung đời sống trong thơ họ ở thời đại ấy đã được phản ánh, khắc hoạ trong một trường- thẩm- mỹ nào. Theo tôi, các nhà thơ xuất hiện sau năm 1975, trong đó có Mai Văn Phấn đã hướng đến những tư duy thẩm mỹ mới và hiện đại. Thơ của họ đã vượt thoát khỏi những khuôn sáo ước lệ của vần điệu để thắp lên những hình tượng thơ mới. Không gian thơ được mở rộng hơn, mở sâu hơn, với tới các chiều kích của những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao. Và, trong trường- thẩm -mỹ này, những vấn đề tưởng chừng lớn lao lại được khái quát lên từ những cái rất tầm thường, nhỏ bé của đời sống quê hương máu thịt hàng ngày.

Nhà thơ Mai Văn Phấn đang hướng tới những bến bờ cách tân ấy, anh đã bước đầu có được những dấu ấn riêng trong nền thơ đương đại của chúng ta với tư cách là một nhà thơ rất chuyên nghiệp, chuyên sâu và có nhiều ý tưởng mới. Trong bài thơ “Chọn cảnh” dưới đây, chúng ta sẽ thấy Mai Văn Phấn, với một “góc nhìn” mới về thơ cách tân đã nắm bắt và triển khai thi pháp hiện đại một cách sáng tạo như thế nào: “Trong mơ ngả mình trên biển/ gối đầu lên tay em/ Em nghĩ nơi đây biển sâu 8 mét/ (tôi đọc được ý nghĩ)/ có đám mây và chim hải âu/ Tôi mang giấc mơ ra phố/ lúc ăn sáng thấy mình giống miếng mộc nhĩ/ sôi lên trong nồi nước dùng/ nồi nước sâu 8 mét/ Vào thăm bạn trong ngõ hẹp/ biển số nhà giống miếng mộc nhĩ trong nồi nước dùng/ tiếng bạn vọng từ độ sâu 8 mét/ Khép bớt cửa vì lạnh/ Hơi ẩm mơ hồ ngấm xuống rất sâu/ Thấy khoảng cách từ chân ghế tới bức tượng/ tiếng mọt kêu tới vụt nhanh tia chớp/ giữa những khuôn mặt trong quán phở xa lạ.../ bằng/ khoảng cách giữa đám mây và chim hải âu/ đẹp tuyệt vời trên độ sâu 8 mét”.

Một bài thơ luôn mang lại cho ta những bất ngờ đến từ mỗi câu thơ và ta không thể đoán định nổi câu thơ sau Mai Văn Phấn sẽ viết gì về “cái độ sâu 8 m” đã ám ảnh nhà thơ (và ám thị luôn cả người đọc). Bạn đừng đòi hỏi sự có lý, sự hợp chuẩn, sự dễ hiểu của những bài thơ hiện đại kiểu này, nó có vẻ như phi-đời- sống và phi-hiện- thực nhưng nó chính là một đời sống hiện thực 100% theo kiểu nhìn “nghiêng”. Và ở giác độ mới này, nhà thơ đã phát hiện giúp chúng ta những cảm nhận khác lạ về một số hiện tượng đời sống ở những góc rất khôi hài và nhiều ý vị.

Với Mai Văn Phấn, mỗi bài thơ là một thể nghiệm để có được một phát hiện mới, một ghi nhận mới về sự cách tân. Anh miệt mài như thế đã nhiều năm, anh đọc khá kỹ và đọc khá nhiều tác giả thơ hiện đại của thế giới để nắm bắt những trường phái cách tân thơ hiện nay. Sau những kiên trì thể nghiệm (có lúc đã đạt tới một cái gì đấy, và cũng có khi còn lúng túng, hoang mang), thơ Mai Văn Phấn thời gian gần đây bắt đầu “non xanh” trở lại và bớt đi những liên tưởng rắc rối (khiến người đọc thấy choáng sốc nhiều hơn là được thưởng ngoạn vẻ đẹp của thơ). Và bài thơ “Nghe em qua điện thoại” là một dẫn chứng về sự “non xanh” ấy: Tiếng em trong điện thoại rất trong và nhẹ/ Một giọt nước vừa tan/ Một mầm cây bật dậy/ Một quả chín vừa buông/ Một con suối vừa chảy.../ Khoảng cách tới đầu dây bên kia là ruộng đồng, làng mạc, quang gánh... Là xe cộ, tháp dựng, rễ sâu... Giọng em không vượt qua mà làm cho chúng bé lại, mở thông những cánh cửa sang nhau. Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm, con sông chảy vào quang gánh, làng mạc phồn sinh tháp dựng, cánh đồng tươi tốt trên xe cộ.../ Nói tiếp cho anh những câu bâng quơ không nội dung!/ Lát nữa em đặt ống nghe, chắc mọi vật sẽ loay hoay tìm về đường cũ/ Chỉ còn gợn sóng lan xa/ Chỉ còn tan trong diệp lục/ Chỉ còn thoảng bay dịu ngọt/ Chỉ còn bờ đá lung lay...”.Một bài thơ tình khá hiện đại, tôi có cảm nhận thơ Mai Văn Phấn đang bắt đầu có độc giả và họ là những người đọc của thời @- cái thời mà giá trị thi ca đang chịu rất nhiều thử thách và đang trăn trở tìm lối thoát.

Theo tôi, cái mới trong thơ nhiều khi không cần đến sự trình diễn cầu kỳ bằng một hình tượng lạ, một cấu trúc lạ, một biểu đạt lạ mà điều nó hướng tới phải là một phát hiện mới về tính suy tưởng của thơ. Và bài thơ “Hắn” của Mai Văn Phấn sau đây là một trong những bài thơ mang lại sự phát hiện mới về tính suy tưởng của thi ca: “Nơi bóng tối ăn thịt bóng tối/ hắn ngồi lẩm bẩm.../... lầm rầm âm thanh tiếp diễn/ của bóng tối chưa thành/ của bóng tối nuốt dần bóng tối/ của màu đen không thể đen hơn/ Hắn là nơi hoàn thiện: của gương đã lành/ sâu đã nở/ trinh đã mất/ cáp đã đứt/ cống đã thông.../ là bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ sinh/ giày dép lạc mốt.../ là viên đạn bay đi chạm đích/ những vòng kinh hồi sinh/ dòng sông gặp biển../.Lần mò leo tận cây cao/ hắn hô: Ê, chiếu ánh sáng vào đây!/ Theo đèn pin le lói/ mọi người thấy hắn giang tay và bay lượn tựa thiên thần/Hắn cười và vung tay đấm qua lỗ thủng đã khoét sẵn trên tấm bìa. Những ngón tay xương xẩu co lại thành quả đấm thép lao qua tâm điểm không vật cản. Hắn nghĩ, bàn tay đang tìm khoái cảm của con chó chui qua bức tường lớn. Vị trí tấm bìa hắn giơ lên để nắm tay kia bay qua là khoảng cách quá ngắn. Khát thở/ Mỗi lần lao qua miệng lỗ thủng, bàn tay hắn lại xòe rộng. Tấm bìa giống con sứa đang bơi mắc phải lưỡi câu chùm. Xoay tấm bìa, hắn hát: trời xanh í a... đây vòm ngực rộng... Bên kia tấm bìa là thế giới khác. Biển báo, thầy giáo cũ, biên bản giám định, chợ búa, kỷ niệm chương, thợ móc cống, hội đồng hương, tu sỹ, dầu tắm, bẫy chuột, nhà tiên tri... và thời trang cũng khác (hắn nghĩ thế!). Hèn gì không chui nốt cả tay kia (!)/ Hắn liệng tấm bìa vào thùng rác, xuống tấn, đấm liên hồi vào lỗ thủng ước lệ, lao đi tốc độ chóng mặt/ Một dự báo về tương lai của thể thao. Với nhan đề trang trọng của tờ báo buổi chiều, hắn có tên trong danh sách những nhà vô địch”.

Thật ra, thơ hay có những tiêu chí gì, chuẩn mực gì vẫn là chuyện muôn đời xưa nay còn phải bàn cãi, vì cái hay đối với lớp người này (ở thời điểm này) chưa chắc đã là hay đối với lớp người khác (ở thời điểm khác) và ngược lại. Nhưng có một điều dễ nhận ra, thơ hay là thứ thơ còn đọng lại được qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian, bởi thời gian là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo đích thực của nghệ thuật văn chương. Với Mai Văn Phấn, vẻ đẹp nhân văn của ngôn ngữ thơ vẫn mãi mãi ám ảnh những câu thơ của anh. Và hành trình sáng tạo văn học của Mai Văn Phấn đang hướng đến những giá trị đích thực của đổi mới thơ,trong đó có sự tìm tòi làm giầu cho ngôn ngữ thơ.

NVC.


Đã đăng:
+ Báo Người Hà Nội số 42, ra ngày 16/10/2009.


Vũ Thị Huyền

Nhà thơ Mai Văn Phấn - “Chữ bầu lên tư tưởng”

Tôi hứa sẽ “làm một cái gì đó” sau khi “lôi” 2 tập thơ liền của nhà thơ Mai Văn Phấn trên mạng “ra” đọc. Rồi sách anh gửi tặng cũng bày nghiêm ngắn trên bàn. Và… tôi cũng đã “ngốn” xong. Nhưng cảm xúc vào một lời hứa dường như bị “đông cứng”… để rồi mãi tới hôm nay “và đột nhiên gió thổi (*), những cảm thức về 2 tập thơ trỗi dậy. Không chờ đợi đến khoảng lặng nào nữa của “Hôm sau” (*).
Thành thật với bản thân – đó chính cảm xúc tác giả - cứ xung đột liên miên với cái nhìn lý trí vào hiện thực “không thể tin” – và – là – những – đợt – sóng xô cuốn không ngừng những cũ mòn hay lưu cữu tù đọng…? Chìa khóa mở vào ngôi nhà thơ Mai Văn Phấn là phải tự “giũa” cho mình một cái chìa. Anh không làm sẵn cho độc giả những chiếc chìa giống nhau và không phải căn phòng nào bạn cũng vào được? Bạn không muốn vào? Hay không được chào đón?

Chữ bầu lên tư tưởng rõ nét nhất trong tập “Hôm sau” (Bài học) là một ví dụ: “Cánh và khuỷu tay vẫn cứng/Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm/Đạo mạo múa tay trong bị”. Múa tay trong bị - là thành ngữ dân gian chỉ kẻ tiểu nhược, đạo đức giả, trước khó khăn, hoạn nạn của người khác đã không cứu giúp lại còn biểu lộ “sự hả hê” không dám công khai mà “múa tay trong bị”. Một BÀI HỌC chưa cũ mà tác giả không còn là rung chuông báo động mà đã là trống ngũ liên của “lũ sắp vỡ đê”. Sự xuống cấp băng hoại của những “đạo mạo” chết người, của cái “từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm”. Trong bài “Dạy trẻ con”, nỗi nhức nhối đến nghẹn ngào một hiện thực xã hội không thể tin kiểu: “Trẻ con nước mắt chảy vào trong”. “Chúng rủ nhau ăn kiêng đề phòng cao huyết áp, mỡ máu, u xơ tuyến tiền liệt”. Phản biện hiện thực hay hiện thực giả định? Đứng ở một tâm thế nhà thơ – ý thức tác giả với cái nhìn lạnh sắc, nhân bản – ít nhất, anh cũng gõ được vào hiện tại những thanh âm bằng chữ hay đơn thuần gửi tới người đọc những cảm nhận vào một hiện-thực-không-thể-tin - dưới cái nhìn thấu tỏ và thông tuệ của mình.

Thơ Mai Văn Phấn không có sự tiếp nối. Anh luôn làm cách mạng với chính cảm xúc của mình và còn hơn thế. Thơ anh không phải bấm vào đâu cũng chảy máu theo kiểu tuần hoàn thông thường. Có những bài thơ chạm ngưỡng của nghệ thuật sắp đặt. Có thể “biến” một giấc mơ, một buổi chiều, một cái lưỡi người (chẳng hạn) thành một miếng thịt bò và cái khoảng không chúng ta đang sống là cái tủ lạnh khổng lồ. Đó chính là cảnh báo. Tiên tri cần thiết của bất cứ tác gia nào về một ngày mai…. Hay đó chính là tính dự báo trong mỗi tác phẩm thơ của Mai Văn Phấn.

Có lẽ, để dịu mềm hay cân bằng cảm xúc cho chính mình cùng độc giả. Ngược lại với “Hôm sau”, “Và đột nhiên gió thổi” được “nộp lưu chiểu” cùng thời nhưng ngược khác với “Hôm sau”. Tôi bảo đó là tập thơ tình anh anh em em và cứ thấy phảng phất đâu đó “tính Haruki Murakami” của rừng Na-uy. Lời đề từ “Luôn nhớ em trên lưng/con sam cái khổng lồ bao trùm mặt đất” cũng đã chứa một “thông báo” rõ ràng. Trừ bài “Tắm đầu năm” đáng lý anh phải chuyển sang tập “Hôm sau”, còn lại là bản giao hưởng và mỗi nốt nhạc gợi tưởng một nỗi nhớ, mỗi câu thơ gợi tưởng một thân hình.

“Và bất động hồi lâu trong mắt nhắm” “Ta rực rỡ trong vỏ bọc đêm tối/ánh sáng gặp nhau nơi sợi tóc bóng đèn” “Dịu dàng dâng lên chân mây hơi ẩm đại ngàn”… “Sự cách tân khuynh hướng trữ tình” khiến người đọc nhiều khi phải “tháo cũi, sổ lồng” thói quen “giam cùm” cảm xúc của mình để cảm nhận sự tàn khốc của hiện thực “không thể tin” đến sự âu lo “Anh cầm trên tay hòn than nóng bỏng/ngậm lút sâu vào lưỡi câu sắc nhọn/nằm trên từng mũi kim sắc buốt/uống vội vàng ngụm nước đang sôi. Và em và anh…”

Mai Văn Phấn không chơi chữ, tách, ngắt, bất thường trong hàng chữ, lên xuống hay tháo rời chữ ra. Anh chỉ “làm” chữ trong từ trường ý tưởng của mình, hướng tới một khát vọng. Chính điều này đã hạn chế độc giả tìm đọc thơ anh, nhưng nhà thơ không vì thế mà “thỏa hiệp”. Tôi hiểu sự quyết liệt trên con đường sáng tạo anh lựa chọn và hạnh phúc trong mỗi câu thơ “sáng lóe” lên “ý tưởng” soi rọi vào hiện thực, dẫu đôi khi có làm biến dạng hiện thực đến mức giả định, không thể tin.

VTH.

Đã đăng:

+ Báo Hải Phòng cuối tuần, số 33, ngày 13/11/2009

Văn Chinh
(Lời giới thiệu trên website Hội Nhà văn VN)

Độc hành Mai Văn Phấn

Sinh thời, nhà văn Sao Mai nói: “Thơ có 4 cấp độ: từ, ý, khí, thế. Như Chế Lan Viên đã thoát khỏi từ, giầu ý tứ, khí kém nhưng thế nhiều bài đã đến.” Như Mai Văn Phấn hẳn đã không còn phải loay hoay với vần điệu, tu từ và thật thú vị, thoát được là tự do. Cảm giác tự do ở lối nói tung tẩy, nói như không ngụ ý gì, như bất chợt. Cũng ở tâm thức ngột ngạt dị ứng với những cũ kỹ ẩm mốc, những modern hot đến hời hợt, đến vô tình mà nhặng xị. Mai Văn Phấn hiện đại mà không có đồng minh hiện đại, chút cổ điển tinh tế chỉ còn sót lại ở nhạc cảm toàn bài cũng bị thói đọc thơ cổ điển lướt qua mất; ông đành âm thầm đơn độc nhưng bạo liệt với khát vọng cách tân mình. Đọc Mai Văn Phấn tốt nhất là không nên tìm ý, đó là các tập mờ, tâm thái ta thế nào, ký ức ta thế nào, thơ Mai Văn Phấn sẽ chia sẻ với ta thế ấy. Nó có năng lực biến đổi, làm bất yên những hằng thường vô vị và là chỗ cho ý thức thẩm mỹ bám níu. Có bài đã đạt đến khí, như Ghi ở Vạn Lý Trường Thành, đọc xong lạnh đến gai người mà không rõ vì đâu…


Đặng Văn Sinh

Mai Văn Phấn và khúc biến tấu "Hôm sau"

Khác với phong cách hàn lâm của mỹ học cổ điển, tác giả tập thơ "Hôm sau" xem thơ như một thứ phương tiện thông tấn chuyển tải thông điệp đời thường bằng chính ngôn ngữ đời thường. Đây là thứ ngôn ngữ sống động, cập nhật, giàu sắc thái biểu cảm, dễ tiếp nhận, bao hàm cả chức năng thư giãn nhằm giải tỏa những căng thẳng trong thời đại được coi là Hậu - hiện - đại.

Viết theo lối Tân - cổ - điển kết hợp với Hậu - hiện - đại không dễ, nếu non tay, thơ rất dễ thành loại vè chợ búa nhảm nhí. Vấn đề cốt tử là phải tìm ra ý tưởng, tiếp theo mới đến thao tác triển khai chi tiết. Ở lĩnh vực này, Mai Văn Phấn được xem như vị tông đồ mang sứ mệnh "vác thánh giá". Đọc "Hôm sau", ta có thể thấy, phần lớn các bài đều đặc sắc và gây ấn tượng mạnh bởi những phát hiện bất ngờ hiện diện ngay trong từng chuyển động đến tế vi đời sống, nhưng không phải ai cũng nhận ra. Điều thú vị là, mỗi câu chuyện đời thường như thế đều hàm chứa yếu tố triết lý, nhưng đó là kiểu triết lý hồn nhiên trong mối tương quan liên đới chứ không phải là áp đặt máy móc. Tuy nhiên, Mai Văn Phấn không dừng lại ở việc đưa ngôn ngữ đời sống bình dân vào thơ. Đọc "Hôm sau", người ta dễ dàng nhận ra, sáng tác của anh là sự kết hợp uyển chuyển của ít nhất ba phong cách, trong đó, tân cổ điển luôn xuất hiện với tần số cao. Tân cổ điển, hậu hiện đại, thậm chí cả siêu thực không loại trừ nhau mà luôn bổ sung cho nhau, hòa quyện vào nhau, chuyển hóa thành phẩm chất mới cả định tính lẫn định lượng.

Nếu "Hôm sau" chỉ dừng ở những thi pháp hiện đại thì tập thơ đã đóng góp đáng kể vào việc khẳng định tính cách tân của Mai Văn Phấn. Tuy nhiên, một khi "thi pháp đời thường" được gắn với cảm quan siêu thực, tính truyện và ngôn từ vượt ra khỏi quy ước cứng nhắc mà được đặt trong không gian bốn chiều, hiển nhiên sẽ làm bùng nổ hiệu ứng. Không gian siêu thực chính là bài toán giải tỏa sự bế tắc, phẳng lỳ, nhàm chán của diễn biến tâm lý con người ở vào thời điểm lịch sử rất khó định danh vì bị chi phối bởi tinh thần thời đại cưỡng bức quy luật. Siêu thực còn là giải pháp đưa con người vào trạng thái huyễn tưởng, tìm về vô thức, kích hoạt những vùng tối đang ngủ yên, thức tỉnh để chúng tham gia tối đa vào quá trình tư duy sáng tạo. Có thể xem những bài "Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ", "Không thể tin", "Quay theo mái nhà", "Anh tôi", "Ở những đỉnh cột", "Đến trong ý nghĩ"... thuộc loại này. Mỗi bài thơ đều là một câu chuyện trong không gian siêu thực, thời gian hai chiều, khai triển bởi những chi tiết đặc sắc như giai đoạn cao trào của vở kịch câm, sau đó quy chiếu thành một triết lý nào đó. Có điều những triết lý này không cao siêu, trừu tượng mà khá bình dân, rất phổ biến trong sinh hoạt đời thường nhưng sẽ là nghịch lý nếu đặt nó trong không gian ba chiều:

Pha xong ấm trà
Quay ra
Ông khách không còn ở đó
Gọi điện thoại
Người nhà bảo ông ấy mất đã bảy năm
Nhầm lẫn
...
Trong nhà
Trà vẫn nóng
Đẩy chén nước về phía ông khách đã ngồi.
Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt
Chốc lại cúi gập.

(Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ)

Nhưng hình như
mọi con vật trong nhà
vẫn chế tác từ đồ phế thải:
con mèo tam thể được sinh ra từ mớ giẻ rách?
con cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ lon beer?

(Không thể tin)

Đấy là giờ mặc niệm tơ tằm và những cây bông. Bóng tối nuốt sạch thực phẩm ôi thiu, không khái niệm về văn hóa ẩm thực. Hương trà thơm về rừng. Nước gào thét trong chiếc ấm bục đáy.
(Quay theo mái nhà)

Lúc gần đất xa trời, anh nhờ tôi giữ hộ ký ức.
(Anh tôi)

"Kìa đám mây hình người vừa lọt vào bầu trời xanh lơ. Biết đâu tên trộm cũng vào nhà bằng tư thế ấy. Giờ hẵn đã cải trang thành người tử tế, còn đám mây kia vẫn nhởn nhơ bay..."
(Nghe tin bạn bị mất trộm)

"Lật đống chăn nơi ông nằm
thấy mẩu giấy với nét chữ nghuệch ngoạc:
"Ai tìm thấy tôi ở đâu, gọi về số...
Xin cảm ơn và hậu tạ
".
(Đúng vậy)

Nhưng sao họ tồn tại biệt lập?
Chắc lưỡi của họ đang treo trên những đỉnh cột khác.

(Ở những đỉnh cột)

Vạn Lý Trường Thành còn xây dở?
Trên không tiếng hoạn quan truyền chỉ
Bắt được kẻ nào vừa vác đá vừa làm thơ
đánh hộc máu mồm
Khâm thử!

(Ghi ở Vạn Lý Trường Thành)

"Hôm sau" là tập thơ mang màu sắc triết lý đến độ đậm đặc. Đó là thứ triết lý được xác lập trên cơ sở những dữ kiện đời sống tồn tại như một nghịch lý. Tư duy mỹ học ở đây phải được đặt trong vùng không gian ảo. Sự liên kết những hiện tượng đơn lẻ sau khi đã sàng lọc của đời sống vốn lắm hệ lụy qua công đoạn tích hợp đã chuyển hóa thành phẩm chất mới. Thùng rác là môi trường bẩn thỉu nhất, chỉ thích hợp với chuột, gián và ruồi muỗi, người ta lại in đậm dòng chữ "Ở đây không ô nhiễm, xin bạn yên tâm", chính là một nghịch lý. Từ hiện tượng nghịch lý trên, đến triết lý về sự nghịch lý, người đọc không khỏi ngạc nhiên về cái nhìn sắc sảo cùng những kiến giải hết sức mới mẻ trong quá trình nhận thức những hiện tượng xã hội đương đại.

Một đặc điểm không thể không ghi nhận ở Mai Văn Phấn là khả năng mổ xẻ tâm lý phơi bày những ý tưởng cũng như hành vi con người. Khác với thơ truyền thống, bị những quy ước nghiêm ngặt thuộc phạm trù mỹ học cổ điển chi phối, với thơ tân cổ điển, tác giả có thể viết về đủ mọi lĩnh vực đến từng ngóc ngách của đời sống, kể cả những hành vi nhếch nhác vốn được giấu kín trong bộ nhớ. Cũng như các nhà thơ viết theo khuynh hướng Hậu - hiện - đại, chủ trương đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ để thơ hòa nhập với cộng đồng, không có vùng được coi là cấm kỵ, Mai Văn Phấn luôn tìm cách diễn đạt tác phẩm làm sao mới mẻ nhất, tinh tế nhất, vì thế cũng ấn tượng nhất. Điển hình là thói đạo đức giả. Minh chứng thuyết phục cho trường hợp này là "Bài học", "Dậy trẻ con", "Hắn", "Đến trong ý nghĩ", "Chuyện còn dài"... "Bài học" được khai triển như là một ca giải phẫu, phanh phui lục phủ ngũ tạng loại quan chức "xanh vỏ đỏ lòng" với tất cả những thói tham lam, bần tiện nhưng lại núp dưới chiếc mặt nạ "đạo mạo":

Cánh và khuỷu tay vẫn cứng
Từ cổ tay xuống đến ngón phải mềm
Đạo mạo múa tay trong bị

Hãy xem cách ứng xử trong sinh hoạt thường nhật cũng như "nghệ thuật" giao tiếp của ông ta với những người xung quanh:

Đạo mạo phát biểu chung chung
Đạo mạo nghiêng mình trống rỗng
Đạo mạo lấy trộm áo mưa
Đạo mạo thở mùi hôi vào miệng người khác
Đạo mạo bọc nhầm một chiếc răng sâu
Đạo mạo tiểu tiện nơi công cộng
Đạo mạo xụt xịt trong khăn mùi xoa
Đạo mạo chỉnh lại con c... trong túi quần nơi hội họp
...
Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang
Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học
Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương
Đạo mạo thả virus vào e-mail người khác
Đạo mạo đánh tráo bài thi
Đạo mạo tiêu tiền âm phủ

...

Hàng loạt dữ liệu về kẻ nói một đàng làm một nẻo xuất hiện như phép thống kê số học. Tác giả không cần phân tích, diễn giải, tự nó đã bao hàm kết luận về hệ quả của các hành vi trên . Đạo mạo vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân mang tính phổ quát khi những giá trị văn hóa bị tha hóa, lòng tin mù quáng bị lợi dụng biến thành thứ tôn giáo "nhất thần luận". Các bài "Hội chứng từ một tin đồn", "Cái miệng bất tử",, "Chuyện còn dài" cũng có cách lập tứ tương tự. "Hội chứng một tin đồn" được nhắc lại nhiều lần mệnh đề mở đầu bằng các cụm từ "Tôi không..."; "Hãy..."; "Xin anh (chị) đừng..."; "Nhớ không...". "Bài học" dạy toàn cách ứng xử sơ đẳng ở trình độ vỡ lòng, nhưng thực chất không phải để giáo huấn trẻ mẫu giáo mà đối tượng của nó chính là những kẻ đại loại như "Đạo mạo".

"Hôm sau" là tập thơ có phong cách diễn đạt khá đa dạng bằng ngôn ngữ thông tục nhưng giầu hình ảnh, đặc biệt hết sức biểu cảm. Tính biểu cảm không phải ở sự bóng bảy ngôn từ mà chủ yếu ở sự kết hợp lâm thời lớp từ vựng trung tính, trên cơ sở ngữ cảnh cụ thể, tu sức để chúng trở thành đa nghĩa, đa thanh. Mai Văn Phấn rất có sở trường tạo ra những "mê cung" dẫn dụ người đọc vào trường liên tưởng như một thứ ma trận. Ở trung tâm "bát trận đồ", tác giả lặng lẽ điều khiển "âm binh", phát các tín hiệu khởi động hệ thống, kéo độc giả vào trò chơi chữ nghĩa, tạo ra hiệu ứng dây chuyền chẳng khác gì những con bài domino. Với cách viết khá mạo hiểm này, "Biến tấu con quạ" được xem như một thử nghiệm thành công. Nhìn một cách khái quát, "Biến tấu con quạ", phong các siêu thực nổi rõ hơn so với tân cổ điển. Không thể "kể lại" được "Biến tấu con quạ" nhưng lại có thể rút ra những triết lý mới mẻ sau mỗi lần đọc. "Biến tấu con quạ" gồm 14 mục và 2 câu thơ dẫn. Tác giả lấy quạ, một loại động vật hoang dã, chuyên ăn xác thối làm đối tượng phân tích, dự báo. Quạ - sinh vật, là thực thể khách quan, có thể nhìn thấy cùng với những thuộc tính di truyền, nhưng quạ - linh vật, lại thuộc về không gian siêu thực đến từ miền vô thức như là một ngẫu tượng. Con quạ "biến tấu" nên nó vừa là biểu tượng của sức mạnh hủy diệt vừa là khởi nguồn của một trật tự mới. Sau tiếng quạ kêu, không ít hành vi khuất tất được phơi bày. Những gã phù thủy chơi trò lưu manh, lừa bịp bị hình phạt móc sắt vào miệng. Trật tự xã hội quy ước bị đảo lộn:

Thày lang đốt sách cuối vườn
Tân dược trong kho đều quá hạn sử dụng
Những phù thủy chịu hình phạt
Miệng bị đóng bởi những móc sắt
...
Con cá nhảy vào đám mây tự vẫn
Buông ngang trời ngàn vạn lưỡi câu

"Biến tấu..." còn mở đầu những tai họa khủng khiếp sau "khai sinh" khi mà máu xuất hiện cùng với tội ác dự cảm cho một xã hội đổ vỡ, văn hóa suy đồi, nhân cách băng hoại:

Mực đổ dưới chân và máu
vón cục ở yết hầu, phế quản
Viết một nét lên trang đầu
Thấm suốt cả ngàn trang sách.

Không còn nghi ngờ gì nữa, sự thật, quạ chỉ là một danh xưng, nhân danh con người (hay thượng đế) trừng phạt con người bằng cách hành hạ xác chết theo kiểu trung cổ:

Móc từ hốc mắt
những nhãn quan
Di ảnh là vật chứng
Mổ vào lưỡi
và kéo dài

Những động tác "móc", "mổ", "bóc từng mảng thịt", "tháo rời tứ chi", "sổ tung lục phủ ngũ tạng"... là ẩn dụ của quá trình tìm nguyên nhân bệnh lý của cơ thể xã hội. Mỗi một động tác của quạ đều mang tính biểu tượng tương thích với trạng thái tâm lý giả tưởng. Hãy gác lại những định kiến không mấy tốt đẹp về loài dã điểu này, con người cần làm phép so sánh rồi tự "biến tấu" xem loài người cao hơn loài quạ bao nhiêu bậc về sự tiến hóa. Toàn bộ hành vi của quạ thông qua "biến tấu" dường như đều theo một quy trình. Quạ chính là một phiên bản con người khi ta nhìn chính ta dưới nhãn quan siêu thực.

Giải pháp phân đôi, hoá giải bản thể, tìm đến nguyên nhân hình thành dục vọng cùng tính đa dạng của những tạp niệm rồi tích hợp thành hệ thống triết lý được Mai Văn Phấn sử dụng như là một hình thức thậm xưng. Nhân vật "hắn", một danh xưng phiếm chỉ thường xuất hiện với tần số cao. "Hắn" ở khắp nơi nhưng luôn ẩn trong bóng tối và có khả năng biến hình tùy theo hoàn cảnh và môi trường. "Bóng tối ăn thịt bóng tối" là mệnh đề xã hội học làm lạnh gáy người đọc. "Hắn" có khi là âm bản của đời sống, là "bãi rác" lịch sử, là tập hợp số đông của những bộ óc hoang tưởng, thậm chí, "Hắn" rất có thể là ông chủ tập đoàn xuyên quốc gia bao thầu những đồ phế thải đồng thời lại là trung tâm chế tác những ý tưởng điên loạn tầm cỡ nhân loại:

Hắn là nơi hoàn thiện:
của gương đã lành/sâu đã nở/trinh đã mất/cáp đã đứt/cống đã thông
là bãi phế thải của giẻ rách/ mảnh thủy tinh/ băng vệ sinh / giày dép lạc mốt...

Cũng có thể "Hắn" là bóng ma của xã hội hậu hiện đại với thứ trật tự... phi trật tự, tư duy logic... phản logic. Núp trong bóng đêm "Hắn" thể hiện thứ sức mạnh bản năng ngu xuẩn khi chơi trò đấm đối phương qua lỗ thủng tấm bìa. Đó là hành vi tự kỷ ám thị hoàn toàn ngẫu hứng nhưng chưa chắc đã mắc chứng tâm thần phân liệt cho dù đã được những ai đó vinh danh là "nhà vô địch".

Những dòng thơ văn xuôi trong "Đến trong ý nghĩ" cho dù gần với phong cách hậu hiện đại, thêm một lần nữa khẳng định tính phổ quát của nhân vật "Hắn". Nhịp sống gấp nhưng mối liên kết lỏng lẻo, luôn có xu hướng ly khai khỏi sự ràng buộc quy ước để tìm tự do cá nhân tuyệt đối trong một môi trường đầy bất trắc cho dù con người chẳng bao giờ dám có ý nghĩ... nổi loạn:

Tôi đi xe hết ga hết số. Răng nghiến chặt. Tay bóp cổ hắn. Kéo hắn lướt trên mặt đất... Đích đến là buổi lấy phiếu tín nhiệm đề bạt, trả lời phỏng vấn, chuẩn bị phong bao một đám hiếu, cuộc gặp gỡ một nhân vật quan trọng...

Bên cạnh mảng đề tài có khuynh hướng thần bí vốn là sản phẩm của chủ nghĩa siêu thực như "Kể lại giấc mơ", "Nếu", "Giả thiết cho buổi sáng hôm sau"... Mai Văn Phấn cũng có khá nhiều bài cập nhật cuộc sống vô cùng phức tạp thuộc dòng tân cổ điển dưới dạng bi hài kịch. "Biết thì sống" đơn giản chỉ là chuyện "mèo mỡ" mà trung tâm rắc rối là ông trưởng thôn sẵn máu gió trăng, chị thu tiền điện lẳng lơ có nốt ruồi bên mắt trái và lão chủ quán thịt chó lắm lời. Một câu chuyện muôn thuở, được diễn đạt bằng thơ không vần, ngôn ngữ dân dã nhưng lại chêm hai câu văn sặc mùi hành chính khiến người đọc bật cười:

"Biên bản lập thành 05 bản
Có giá trị pháp lý như nhau".

Nhưng "Biết thì sống" vẫn chưa đặc sắc bằng "Sống hồn nhiên". Đây là một kiểu bắt chước khá khôi hài của loại người mắc chứng hoang tưởng. Ông ta vẫy tay theo nhịp cỏ lắc lay của gió, bắt đầu óc phải tưởng tượng ra mùa xuân, vợ chồng thay nhau giật sợi dây buộc chỏm tóc vắt qua xà nhà, và, hành vi cuối cùng là pha trà dâng cho cây một khi không "cắn vỡ" được tiếng chim:

Một tiếng chim bủa lưới khắp vườn
líu lo bọc lấy tôi từng lớp kén
muốn thoát ra ngoài phải cắn vỡ tiếng chim
hàm tôi yếu và răng không còn sắc.

Những câu thơ đọc lên, mới nghe như là lời kể của một người già lực bất tòng tâm, mặc cho số phận đưa đẩy, nhưng có vẻ như lại hàm chứa triết lý nhân sinh dưới dạng ẩn dụ sâu thẳm về những quy luật huyền bí đã chi phối thân phận con người từ cả ngàn năm trước.

"Hôm sau" thực chất là bản giao hưởng với những biến tấu đầy ngẫu hứng.

Chí Linh, 02 /12 / 2009
ĐVS.


Đào Duy Hiệp

Cấu trúc ngôn ngữ và hình ảnh trong tập thơ VÀ ĐỘT NHIÊN GIÓ THỔI của Mai Văn Phấn

Mỗi bài thơ là một lâu đài ngôn ngữ “bí mật”, mỗi tập thơ của một nhà thơ là cấu trúc “câu” lớn ngân vang những “bí mật” mang dấu vết “ngữ pháp” tiếng lòng của riêng nhà thơ trong công cuộc khám phá bản chất của thế giới, cuộc đời. Trong hành trình đó, lao động thơ – cuộc phiêu lưu của ngôn ngữ – là một cuộc du hành say mê và hứng thú nhất, nhưng cũng “tăm tối”, khổ nạn nhất của nhà thơ.

Nhưng, nếu đã khó hiểu, “tăm tối” như thế, thì thơ muốn nói gì qua các con chữ ú ớ, mộng mị của nó? Liệu sau khi ra khỏi bài thơ/tập thơ, người ta có hiểu thêm về thế giới, con người? Không ai có thể trả lời được câu hỏi này cũng như chưa có ai định nghĩa cho thật rốt ráo: Thơ là gì? Chính sự lung linh, vẻ đẹp phù chú của ngôn từ thơ đã là một khám phá ra sự không thể khám phá của Cuộc sống, Thế giới, Tình yêu. Bởi, Thế giới là Vô cùng.

Mọi bài thơ tình, như Jacobson bảo, chỉ có một nội dung: “Anh yêu em”. Nhưng cấu trúc ngôn ngữ, nhịp điệu, “ngữ pháp” tiếng lòng của nhà thơ đã kiến tạo ra những “bí mật” khác nhau để nói lên cùng một nội dung đó. Đọc xong tuyển tập các bài thơ tình tuyệt mĩ của các nhà thơ thế giới, liệu ta có khám phá ra hết mọi nhẽ của Tình yêu? Cái “bất khả tri” trước tình yêu, là lí do tồn tại của tình yêu. Và do đó, của thơ.

*

Tập thơ tình và đột nhiên gió thổi( [1] ) của Mai Văn Phấn gồm 27 bài mang đến cho ta ngọn gió mơ hồ về tồn tại đó. (Mai Văn Phấn còn có những tập thơ khác nữa, mà gần như “song sinh” với tập thơ đang bàn là tập Hôm sau, nhưng nếu đưa vào xét trong cùng một bài viết rất dễ gây cảm giác “điểm sách”. Tôi để vào một dịp khác. Có lẽ lúc đó sẽ đọc theo kiểu “bổ dọc” hành trình thơ Mai Văn Phấn thì hay hơn).  

Thơ Mai Văn Phấn mang định hướng thực nghiệm, thể hiện trách nhiệm, ý thức lao động nghệ thuật rất rõ. Có thể có người cho là “khô khan”, khó hiểu cũng được. Nhưng “đọc” ra được một phần nào sự khó hiểu đó của thơ, có nghĩa là ta đã đồng hành, đồng điệu cùng nhà thơ trên hành trình khám phá. Thơ là sự bộc bạch chiêm nghiệm, là bản “photo” chính xác nhất của tâm hồn người làm thơ. Đi vào thế giới thơ Mai Văn Phấn không thể giục giã, cũng không thể lười ngồi chờ những xúc cảm, những rung động dễ dãi vốn gắn với cách gieo vần réo rắt, du dương, hình ảnh, liên tưởng dễ lĩnh hội đã thành quán tính ở nhiều người đọc chúng ta. Thơ hiện đại ít phổ cập đến công chúng rộng rãi cũng một phần ở chỗ đó: giữa độc giả thơ hôm nay với văn bản thơ dường như chỉ còn một mối liên hệ “mệt mỏi” – nghĩa là độc giả cũng phải đồng hành cùng nhà thơ, sáng tạo cùng anh ta.

 Thơ đương đại ở phương Tây, như tôi biết, vẫn gắn với hai khuyh hướng chính: vệt thơ siêu thực từ những năm 20 của thế kỉ trước (tất nhiên, đã được rẽ ra nhiều ngả thử nghiệm mới) và thơ tân-trữ tình thuộc về thường nhật (néo-lyrisme quotidien): loại thơ văn xuôi mà ở đó nhà thơ lắng lại, ẩn mình vào trong lạc thú của cái đời thường, hằng ngày để nói lên những suy tư triết học và siêu hình về cuộc sống vừa trần trụi vừa ảo mộng. Có lẽ thơ Mai Văn Phấn thuộc hai dạng này. Tôi tìm hiểu tập thơ và đột nhiên gió thổi ở hai cấp độ: 1. ngôn ngữ thơ; 2. hình ảnh thơ siêu thực. 

1. Ai cũng biết làm thơ là nói cái rung động của tâm hồn mình bằng ngôn ngữ đẹp, hay. Nhà thơ nói thơ trước hết là nói cái đẹp của ngôn ngữ: anh ta yêu tiếng nói của chính mình, luôn có ý thức làm đẹp ngôn ngữ của riêng mình. Cái bất cập và “đau thương”, buốt nghẹn làm nên bi kịch muôn đời của nhà thơ chính là cùng một sự vật, cùng một “con bài bắt buộc” (F. de Saussure) – tức ngôn ngữ của cha ông, tổ tiên để lại – anh ta phải “gọi tên” nó một cách khác. Đó là bi kịch của nhà thơ. Nó đòi hỏi anh ta phải có tài, nhưng nhất là phải lao động ngôn từ để tạo nên bút pháp, “thương hiệu” riêng. Nhiều người làm thơ nhưng không phải ai cũng là nhà thơ. Vương quốc của thơ không dung chứa quyền uy gia trưởng. Vương quốc Thơ tôn vinh chỉ người đẹp hoàn vũ chưa qua giải phẫu thẩm mĩ. Cái đẹp thật là trên hết. Mọi sự “be bờ đắp đập” (đạo văn) ở đây đều không được chấp nhận. Ngay cả cái đẹp “hoang dại”: một bông hoa mong manh bên dòng suối, một tia nắng muộn trên phiến đá rêu phong, một tiếng còi tàu trong đêm khuya vắng,... cũng có thể là thơ hay nếu nhà thơ “đánh thức” được nhiều người bằng ngôn ngữ thơ của riêng mình.

Đứng trước những “thực tại” nguyên lai đó, con mắt và tâm hồn của nhà thơ rung động, nhưng đưa cái rung động đó vào để thành thơ thì không phải ai cũng giống ai. Lí thuyết liên văn bản cho ta biết rằng mọi văn bản nghệ thuật ngôn từ mới xuất hiện đều đã có một văn bản được được viết ra từ trước đó. Nói thế không có nghĩa là người sau “copy” hay “đạo” văn của người đi trước. Nguyễn Du đã viết “đè” một cô Kiều Việt lục bát lên một cô Kiều Tàu văn xuôi bằng ngôn ngữ của riêng ông. 

Nhưng khi nhà thơ viết đè một “phương ngữ” của cá nhân lên bản ngữ của cộng đồng thì anh ta đã lấy ngôn ngữ làm đối tượng thẩm mĩ: mỗi từ ngữ viết ra có một “bí mật” riêng xuất phát từ cõi lòng, tâm linh, vốn văn hóa, sự trải nghiệm, cái vô thức,… của nhà thơ. Lấy ngôn ngữ làm đối tượng trước hết và trên hết, nhà thơ nói để được “cái thú nghe lời mình nói”. Trong trò chơi ngôn ngữ đó, văn bản thơ không còn cho một nghĩa cố định, duy nhất đúng, mà còn có những nghĩa “tự sinh” trong quá trình đọc. Tôi hình dung rằng, nếu từ ngữ theo nghĩa từ điển là hình vuông, (“trăng” là trăng, “mưa” là mưa,…), vuông thành sắc cạnh; thì cũng những từ đó, trong thơ, chúng là hình tròn, mà chứa trong nó là hình vuông của nghĩa từ điển. Phần dư thừa của hình tròn đã mang nét nghĩa khác do được cộng sinh từ trường từ vựng, âm hưởng, giọng điệu, tiết tấu,… của bài thơ. (Thơ thực dụng, thơ tuyên truyền hoặc thơ rao hàng thì chỉ có một nghĩa, tạm gọi là “thơ vuông”).  

* 

Trong 27 bài của tập thơ, tôi phát hiện thấy động từ “mở” xuất hiện khá nhiều và chủ yếu ở thể chủ động. Những phân tích dưới đây phần nào tìm hiểu cái ý nghĩa ẩn sâu, cộng sinh của chúng trong sáng tạo của nhà thơ (tôi gạch chân): 

“Giọng em không vượt qua mà làm cho chúng bé lại, mở  thông những cánh cửa sang nhau. / Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm” (Nghe em qua điện thoại): “Giọng… mở  thông những cánh cửa” là âm thanh làm “mở” không gian. 

“Mỗi cơ thể con người mở ra nhiều con mắt lạ,…. Nhắm mắt thấy em không rộn ràng như khi mở mắt” (Nhắm mắt): “mở” câu trên là khai thông thị giác tâm linh; còn “mở” câu sau “vuông” nghĩa. 

“Tờ lịch trên tường đang tự mở  sang ngày” / “Bát canh nóng mở cửa phòng chật hẹp” (Mưa trong đất): “tự mở  sang ngày”: hành động “tự mở” trỏ sự trôi chảy khách quan, vô tình của thời gian; còn ở câu sau là tác động của cái thường ngày, cụ thể, hướng ra thế giới. 

“Miệng em hé lộ khu vườn yên tĩnh.” / “Trán em mở cánh đồng hoa vàng bất tận.” (Mưa trong đất): câu trên cho hình ảnh lạ, siêu thực, theo nguyên lí đặt cạnh nhau những vật thể xa nhau làm bật ra một thực tại mới, thường gây sửng sốt: “miệng em” = “khu vườn yên tĩnh”. Hình ảnh đẹp mà hữu lí trong chiều sâu xa của dục tính, bản năng. Giống câu: “Môi em mở  những đồng cỏ xa xưa mướt xanh trong cơn mưa buổi sớm, nối liền bầu trời với mặt đất rộng.” hoặc “Trán em mở cánh đồng hoa vàng bất tận.”. 

“Buổi sáng vào bàn làm việc. Mở  sổ ghi những việc cần làm” / “Lồng vào nhau từng khuôn mặt / Lời vô nghĩa mở  ra tưởng tượng” (Anh anh em em) thì “mở” ở câu đầu “vuông”; câu sau là sự mơ hồ của ngôn ngữ và của thơ.  

Đặc biệt, trong bài Những bông hoa mùa thu, số lượng từ “mở” khá đông đúc: “Gió thổi dạt chú chim sâu vào bờ bụi, mở  tung chiếc áo anh mang thành một cánh buồm” / “Em ken vào anh mịn màng cỏ mọc / giàn hoa leo vươn tay quấn quýt / giục đại dương mở  miệng sông hồ” / “Computer mở  trên mặt bàn rộng” / “Chỉ chiếc cặp em mang là hoàn toàn có thực. / Đến lúc nào em sẽ mở  ra?” / “Môi em mở  những đồng cỏ xa xưa mướt xanh trong cơn mưa buổi sớm, nối liền bầu trời với mặt đất rộng.”; “Khi bờ sông mở  ra bất tận / từng đám lục bình nương lũ trôi về che kín mặt sông” (Những bông hoa mùa thu). 

Hay ở một vài bài khác: “Lan nhanh, choáng ngợp đất hoang vừa mở” (Bài hát mùa màng); “Nơi đất trời gặp nhau / Mở những lạch nguồn tìm về biển cả.” (Giáng sinh); “Anh lặng yên nghe ngực mình / Rộng mở…” (Khai bút cùng cỏ); “chân tư­ờng mở  cánh cửa thoát hiểm” (Để nhận ra anh);  

Ta nhận thấy trong đó, có mấy trường hợp nghĩa “vuông”, như: “mở mắt”; “mở  sổ ghi”; “mở những lạch nguồn”; “mở  tung chiếc áo”; “em sẽ mở  ra”, nhưng cũng không hoàn toàn tuyệt đối. Bên cạnh đó, còn có từ đồng vị “hé lộ”… đó là những “mở” vào siêu thực.  

Trên đây, “mở” đã không còn mang nghĩa thường ngày nữa, mặc dù ngược với nó vẫn là “đóng”. Song, nếu ta thử “lắp” nghĩa ngược đó vào trong những trường hợp trên, thì sẽ thấy không còn “hữu lí” siêu thực nữa. Các động từ “mở” chủ động ở đây phần nào cho thấy tính tích cực, chủ động của chính nhà thơ: “Ta khai mở, tôn vinh nhau. Thành ngọn nến, nước sạch. Thành hoa tươi, hương thơm tế lễ tổ tông.” (Mưa trong đất).  

Bên cạnh đó, các từ “mưa”, “nước” - một trong những nguyên tố tạo lập nên vũ trụ - cũng xuất hiện khá dày đặc trong tập thơ - đặc trưng “âm tính” trong thơ Mai Văn Phấn. Nếu có điều kiện phân tích cấu trúc các hình ảnh mà chúng xuất hiện thì chắc chắn sẽ phát hiện ra các vỉa tầng tâm linh sâu xa trong tâm thức sáng tạo của nhà thơ. Mai Văn Phấn “tuyên ngôn” thơ: “Không, ta vẫn còn giọng nói. Mỗi âm tiết lúc ấy hiện lên một sự thật. Sự thật hiển nhiên đảo lộn mọi quy ước phổ thông.” (Anh anh em em...). Sáng tạo ngôn từ gắn với sáng tạo hình ảnh thơ để làm “đảo lộn mọi quy ước phổ thông.”, tức là bẻ gãy thói quen quán tính trong cách nhìn và cách nghĩ về sự vật. Khi đã định làm như thế và tâm niệm như thế, nhà thơ đương nhiên không thể chịu được lối mòn. Và anh ta phải lao động ngôn từ, phải lao động hình ảnh thơ.   

2. Như vừa nói, hình ảnh trong thơ Mai Văn Phấn, (đa số là thơ văn xuôi), hầu hết đều là siêu thực, mộng mị, nhưng đọc kĩ ta vẫn thấy chúng bám rất chắc trên cái nền luận lí, hữu thức. Điều đó cho thấy ý thức lao động thường trực của nhà thơ mong “khám phá” ra thế giới, cái phần chưa được tri giác của cuộc đời.  

Thử tìm hiểu một vài kiểu hình ảnh trong thơ anh: “Anh nghe em nhờ rễ sâu mở những vỉa tầng linh thiêng trong đất ấm, con sông chảy vào quang gánh, làng mạc phồn sinh tháp dựng, cánh đồng tươi tốt trên xe cộ...” (Nghe em qua điện thoại) 

Do sự câu thúc của “rễ sâu” mà gọi ra phần đất đai linh thiêng ở vế sau; nhưng “rễ sâu” không vì thế mà không gợi hình ảnh sợi dây điện thoại cũng như tình cảm “sâu rễ” (có thể) rối rít của hai người yêu nhau. Câu thơ đã “mở” ra nhiều chiều tâm tư, suy tưởng và cả những liên tưởng thú vị. Câu “con sông chảy vào quang gánh, làng mạc phồn sinh tháp dựng, cánh đồng tươi tốt trên xe cộ...” có ba vế ứng với ba không gian “con sông”, “làng mạc”, “cánh đồng”. Nhưng chúng không còn “hiền lành” như ta vẫn hình dung xưa nay. Cả ba “vật thể” trên đều “quái gở” xét theo logic thông thường. Đứng trước “con sông chảy vào quang gánh” ta thấy lạ mà buồn, có cái gì đó hưu quạnh; đến “làng mạc phồn sinh tháp dựng” đã tấp nập, sang “cánh đồng tươi tốt trên xe cộ…” thì hình ảnh “ngược ngạo”, “quái đản”. Kí hiệu “cánh đồng” ở đây (không rõ có xa với chủ định sáng tạo của nhà thơ không?) khiến người đọc liên hệ đến ẩn dụ về sản vật, sự thu hoạch, vui tươi đã được diễn đạt bằng hình ảnh thơ, đẹp, lạ, và có chiều sâu suy tưởng. Nói về cấu trúc, vẫn ở bài thơ này, “tiếng em” được ví ở đầu bài là:  

“Một giọt nước vừa tan
Một mầm cây bật dậy
Một quả chín vừa buông
Một con suối vừa chảy...”

thì ở cuối bài sẽ được “dội” lại đăng đối:

“Chỉ còn gợn sóng lan xa
Chỉ còn tan trong diệp lục
Chỉ còn thoảng bay dịu ngọt
Chỉ còn bờ đá lung lay...”
 

Tất cả “chỉ còn” lại những “linh hồn” từ “xác” của các sự vật bên trên sau khi nghe em qua điện thoại dẫu tất cả đều chỉ là tưởng thượng. Âm thanh, giọng nói của “em” đã chồng chất những không gian, thời gian thành những hình ảnh lần lượt trôi qua trong ý thức của chủ thể trữ tình. Thơ, như Octavio Paz nói, là nghệ thuật của thời gian. Nhưng, cũng là nghệ thuật của không gian, trong đó có không gian văn hóa, không gian tâm linh, kinh nghiệm, không gian trải nghiệm của nhà thơ.

 

Một hình ảnh khác: “Vệt môi anh là con chim gõ kiến trên cây cổ thụ. Chiếc mỏ tí hon làm cây rừng thay lá, thân gỗ mục hồi sinh. Những tán xanh trùm lấp, rì rầm, vươn thẳng. Nhắm mắt anh nghe trong thân cây biết mặt trời đã mọc, những sóng từ phát sinh cơn địa chấn, và ngôi sao lơ đãng đổi ngôi. Thời tiết bốn mùa làm phồn sinh bản năng loài chim gõ kiến. Ngước lên cao. Lại cúi xuống thân cây thành tâm tụng niệm:

Tạ ơn mưa nguồn, chớp sáng, mây qua...

Tạ ơn sương sớm, đất đai, đêm tối... ” (Mưa trong đất)

 Thơ văn xuôi nhưng vẫn có nhịp điệu do cấu trúc các câu và hình ảnh: từ thấp lên cao dần đến “mặt trời đã mọc”, “ngôi sao lơ đãng đổi ngôi”, sau đó lại trở về với mặt đất. Cả đoạn thơ và các hình ảnh được cấu trúc một cách có ý thức, ngập tràn thiên nhiên tươi sáng đan xen lời in nghiêng như kinh cầu nguyện. Đây là một hình ảnh tạm coi là dễ hiểu nhất trong thơ Mai Văn Phấn.

 Dưới đây là những hình ảnh siêu thực về tình yêu mà tôi thấy rất thú vị:

 “Làm vòm cây tái tạo nên anh
Tóc em bóng râm cội rễ
Thân cây cao vút thẳng đứng
muốn bứt lên
trong chênh lệch những miền áp thấp
trong lay giật
muốn bứt lên trong hơi nóng cơ thể
đẩy từ lòng đất
từ cốt tủy ngủ sâu tụ khí
phù trợ những sinh linh
Gạn từ em
được chiết từ em
anh hiện hữu
và không hiện hữu.”

 “Tóc em bóng râm cội rễ” đã lạ nhưng chưa ám ảnh, bắt đầu từ câu sau nó trở đi cho đến cuối đoạn là ám ảnh tính dục, hiện sinh, giật khục, “lay giật”, là sự sống được nói bằng thơ ở phần sâu xa nhất: Adam được sinh ra thêm một lần sau Chúa.

 Những hình ảnh khác cũng “vô lí” như thế: “Anh lặng yên nghe ngực mình / Rộng mở… / Thành quả chuông run lên trong mưa / Gặp đèn trời khói bay, gió lạnh” (Khai bút cùng cỏ); “Muôn pháp là một, một đi về đâu. Ẩn hiện không gian một chiếc bình lớn. Ai đang về giữa hạt sương trong. Tiếng sấm sâu hút. Cánh hoa mong manh vươn tự do…” (Mưa trong đất); “Những ngôi sao đen trong lòng chảo ngực / anh rối bời nổ lách tách” (Những tiếng nổ nhỏ); hoặc “Gần em nghe trăng lên / ngồi trong quả chuông ánh sáng” (Những bông hoa mùa thu), v.v.

 3. Lời kết: Với thơ, mỗi người có một cách tiếp cận vẻ đẹp, chiều sâu ý nghĩa, triết lí. Và không thể coi cách tiếp cận nào là độc sáng, triệt để. Những dòng viết bên trên chỉ coi là những “Lời quê góp nhặt dông dài” vào những sáng tạo rất khổ công, vất vả, song đầy hứng thú của nhà thơ.

 Ngôn ngữ và hình ảnh thơ Mai Văn Phấn còn có thể viết nhiều hơn nữa, đào bới sâu hơn nữa mà ở đây, tôi nghĩ, mới chỉ là những gợi mở bước đầu. Ngôn ngữ thơ anh mang hồn cốt, phong cách rất riêng: hình như lặng lẽ mà quẫy cựa, khám phá với những tâm tình đôn hậu, sâu lắng. Hình ảnh lạ, đẹp từ những lao động ngôn ngữ đó mà thành. Trong cấu trúc của chúng, những hình ảnh của thơ anh thường chồng chất, xâm lấn, “đột kích” lẫn nhau giữa những không gian, thời gian thơ vô tận.

 Thơ là tiếng nói của Vô cùng. Không ai, kể cả nhà thơ, có thể gọi ra hết ý nghĩa của chính thơ mình. Càng ngày tôi càng thấy thơ là loại hình nghệ thuật mang tính triết học thâm thúy nhất về Đời sống, Tình yêu, Con người, về Lao động và Yêu thương.

 Cả về nỗi Cô đơn buồn bã và thẳm sâu trong mỗi chúng ta.

 Hànội, tháng 9 – 12 năm 2009

ĐDH.

Phan Triều Dương

 Hôm sau - dù có bao giờ

 Hôm sau - dù có bao giờ… Câu thơ còn mất tình thơ vẫn còn. Đọc tập thơ “Hôm sau” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm qua, tôi cảm được niềm mong mỏi đó của Mai Văn Phấn.

Thơ Mai Văn Phấn dài, vần ít, nhạc điệu cũng không nhiều, hình ảnh cũng là những hình ảnh bình dị của đời sống thường nhật, thi thoảng chúng ta mới bắt gặp đôi nét liên tưởng khá thú vị kiểu: Con cá nhảy vào đám mây tự vẫn/ Buông ngang trời ngàn vạn lưỡi câu (Biến tấu con quạ).

Tóm lại, đây là dạng thơ không dễ nhớ, dễ thuộc nhưng không dễ đi vào… quên lãng. Bởi ẩn chứa trong những câu thơ có dáng vẻ bề ngoài thô nháp, xù xì (và có phần ngỗ nghĩnh) ấy là những suy tưởng, chiêm nghiệm khá sâu sắc về “một kiếp con người” được tác giả đúc kết bằng kinh nghiệm bản thân qua mấy chục năm tháng sống “giữ hộ ký ức” cho người khác, đặc biệt là ở những dự cảm về thời gian.

 Không có dự cảm mạnh về thời gian, không bị ám ảnh bởi cảm giác đời người như bóng câu qua cửa, chớp mắt đã trăm năm Mai Văn Phấn khó viết nên những câu thơ gợi nên cái hư thực, mong manh, phù du của kiếp người như thế này: Pha xong ấm trà/ Quay ra/ Ông khách không còn ở đó/ Gọi điện thoại/ Người nhà bảo ông mất đã bảy năm/ Nhầm lẫn. (Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ).

Dự cảm ấy xuyên xuốt gần ba chục bài thơ trong tập “Hôm sau”. Ở mỗi bài dự cảm ấy, ám ảnh ấy lại được soi rọi dưới nhiều góc độ, nhiều hình thức khác nhau, tạo nên những cảm xúc, những trải nghiệm đa chiều, đa góc cạnh thể hiện tư duy sâu, thấu đáo của tác giả về một vấn đề lớn của nhân loại. Hôm sau đáng đọc theo tôi là vì lẽ đó.

 PTD.

 ĐÃ ĐĂNG: Báo Đất Việt

Nguyễn Thánh Ngã

 (Tạp bút)

  MỘT GIỌT NƯỚC MỘT MẦM CÂY

Một giọt nước vừa tan

Một mầm cây bật dậy

Tôi chọn hai câu  này trong bài thơ “Nghe Em Qua Điện thoại” của nhà thơ Mai Văn Phấn. Tập thơ "Và đột nhiên gió thổi – NXB Văn học 2009" đã thổi thấu lòng tôi với những gì u lệ nhất của thơ. Không cần quảng cáo vớ vẩn, thơ Mai Văn Phấn mặc nhiên găm vào thời đại chúng ta. Trắc trở và mạnh mẽ. Sâu thẳm và bật thức bao người. Dĩ nhiên là thơ không dễ đọc, nhưng tôi tin trái tim Mai Văn Phấn ở đấy, trong tất cả những gì anh viết. Một trái tim yêu thương và trong sáng!

   Bởi được trích ra nên tôi không hiểu theo văn bản thơ. Sẽ là có lỗi chăng? Không, vẫn còn đấy cốt lõi thơ tròn đầy. Vì thế tôi sẽ không làm mất thơ của Mai Văn Phấn. Tôi yêu hai câu thơ tuyệt đẹp này, đơn giản vì nó là nguồn sống của trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta. Vâng, một giọt nước mà thấy cả đại dương, một mầm non mà thấy cả đại ngàn. Hai câu thơ như lời kinh Bát Nhã mở ra nguồn mạch của muôn loài. Biên độ bình yên của Tâm chợt vô lượng đưa ta tiến sâu vào bản chất vũ trụ. Nếu trong Tâm Kinh nói về tính Không, thì đây là tính Hữu. Có giọt nước là có tất cả. Một mầm cây bật dậy, cả quả đất xanh thẳm, sống động bởi cuộc sống sẽ sinh sôi. Đây là tứ thơ duy nhất, dung  chứa trọn vẹn nội dung một cách hoàn mỹ mà lại vô cùng giản dị và trong sáng nhất!

   Hiện nay, qua các phương tiện thông tin chúng ta biết quả đất đang bị phá hoại bởi sự vô ý thức của con người, thì một lời cảnh báo là vô cùng quan trọng. Nhưng cảnh báo chỉ là cảnh báo, hằng ngày những cánh rừng bay mất, những loài chim tuyệt chủng. Quả đất như người mẹ hào phóng đã trở nên nghèo đi vì sự vét của lũ con. Chúng ta vô cùng đau xót và lo lắng vì những dự báo quả đất nóng lên, băng tan, nhiều vùng bị ngập lụt, tài nguyên cạn kiệt! Sẽ ra sao nếu con người cứ tiếp tục chìm trong tham dục  mà quên để  "đức hậu" lại cho con cháu mai sau!?

   Theo tôi, biểu tượng "giọt nước và mầm cây " là biểu tượng đẹp nhất và có ý thức nhất trong thơ Mai Văn Phấn. Bởi sự xuất hiện của nước trên các hành tinh  như sao Hỏa, sao Kim đồng nghĩa với sự sống và niềm hy vọng về một thế giới hòa bình ấm no và hạnh phúc.

   Nói về giọt nước thì nhiều, nhưng tôi nhớ nhất là truyền thuyết về cái chén Khổng Tử. Tương truyền khi Khổng Khâu đi ngang qua sa mạc, trong lần khát suýt chết thì có một ông lão hiện ra tặng cho Ngài cái chén múc nước. Nhưng kỳ lạ thay, cái chén được chế tác thế nào mà múc nước đấy quá hoặc ít quá thì tự chảy không còn một giọt mà múc vừa đủ thì còn. Có lẽ từ hàm ý này mà Khổng Tử lập nên đạo trung dung chăng? Có hay không có giọt nước đã lập nên đạo của cuộc sống? Chuyện khác của Đức Phật, Ngài có nói rằng: "Trong một giọt nước có vô số sinh vật". Lúc nhỏ được nhiều người giải thích, Phật vì chứng Thiên nhãn thông nên Ngài nhìn thấy như chiếc kính hiển vi vậy, trong giọt nước có rất nhiều vi khuẩn. Ở thời Ngài tại thế, câu này có vẻ khó tin được. Nhưng câu nói của Đức Phật hàm chứa một nhãn quan về đời sống thực mà nước đem lại. Những dẫn chứng này  nói lên vị trí quan trọng của giọt nước đối với đời sống con người cả tinh thần lẫn vật chất, cả vật lý và tâm lý v.v... Vì vô minh, tức những tham sân si che lấp chúng ta đã xâm hại nguồn nước. Hiện nay trên thế giới có hơn một nửa số người có nguy cơ không có nước sạch hoặc mất nguồn nước sạch do ô nhiễm môi trường. Thế kỷ 21 được mệnh danh là thế kỷ di trú một phần cũng do ô nhiễm môi trường, nguồn nước cạn kiệt. Ở Việt Nam vấn đề môi trường và ô nhiễm nguồn nước đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Con sông Thị Vải và nhiều con sông khác đã được báo chí cảnh báo và phanh phui là một minh chứng cho điều này. Để được  "một mầm cây bật dậy" chúng ta phải làm gì, trong hành động của mỗi người, một đứa con của đất Mẹ bao dung? Nếu Trung Quốc ngăn dòng Mê-kong chúng ta sẽ ra sao? Trong khi đó vì thiếu hiểu biết chúng ta đã xả nước thải giết chết nhiều con sông vừa thơ mộng vừa đem lại nguồn lợi dồi dào cho bao con người bé nhỏ. Chúng ta tiếp tục khoan vào lòng Mẹ 100, 200 mét một cách "vô tư" để thỏa mãn  cuộc sống yếu hèn ích kỷ của chúng ta. Rồi mai sau con cháu chúng ta nghĩ sao, nếu gia tài mà tiền nhân để lại là một gánh nặng về lụt, đói khát?!

   Tôi nhớ một cảnh nao lòng khi còn làm phóng viên cho một tờ báo nọ, một người mẹ K'ho đứng trước cánh rừng cháy rụi mà nơi đó, hôm qua bà đã hái nấm, hái rau, và trái cây rừng từ trong ấy. Những giọt nước mắt lăn dài trên hai gò má tàn tro là một viễn cảnh đau buồn mà tôi từng chứng kiến...

 Lâm Đồng, ngày tết Canh Dần

NTN.

 

Nguyễn Thanh Tâm

Động hình của tư duy và mĩ cảm trong tập thơ Hôm sau của Mai Văn Phấn

   1.

Đọc thơ Mai Văn Phấn cần khá nhiều thời gian và tâm sức. Đó là ấn tượng đầu tiên khi tiếp cận hai tập thơ “và đột nhiên gió thổi” (Nxb Văn học, 2009), “Hôm sau” (Nxb Hội nhà văn, 2009) của anh. Cảm nhận có một nguồn động năng mới mẻ trong thơ Mai Văn Phấn mà chưa thể tường giải cứ ám ảnh không nguôi. Gần một năm trôi qua, hôm nay tôi mới có thể nói đôi chút về tập “Hôm sau” của anh từ khía cạnh vận động của tư duy và mĩ cảm.

2.

Vật lý học hiện đại với những thành tựu to lớn về cơ học lượng tử đã nêu lên tính bất định của vũ trụ. Quan niệm này sẽ làm cho người quan sát trở thành một phần của hiện thực được tri nhận. Cụ thể hơn là "người quan sát... tham dự vào hiện thực được quan sát" (Đạt Lai Lạt Ma). Không thể nói là hiện thực khách quan khi hiện thực đó được mô tả bởi sự tri giác của con người. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với việc đánh giá khía cạnh hiện thực trong tác phẩm văn học. Hiện thực là sản phẩm mang đậm dấu ấn chủ quan của chủ thể sáng tạo bởi những tác nhân chi phối từ tâm tính, thị hiếu, văn hoá, dân tộc, thời đại mà người đó sinh tồn, thụ hưởng. Trở lại với tập thơ “Hôm sau” của Mai Văn Phấn, ta bắt gặp một cái nhìn mới về hiện thực, con người và nghệ thuật. Có lẽ đó là điều làm nên nguồn động năng đầy ám ảnh trong thơ anh. Nguồn động năng ấy chi phối, quán xuyến tư duy nghệ thuật và mĩ cảm tạo nên khí hậu riêng của tập thơ.           

Cuộc sống hiện lên phong phú, sinh động, phồn tạp như vốn có trong thơ Mai Văn Phấn. Như một nhà quay phim kĩ tính nhưng tham lam, Mai Văn Phấn thu vào ống kính của mình những sắp đặt ngẫu nhiên của tạo hoá, để nó tự nói lên thông điệp về tính thậm phồn, bất định, bất toàn của vũ trụ. Dụng công của tác giả nhiều nhất có lẽ là những bận lòng đầy tỉ mỉ, những chăm chú khổ tâm để tri nhận thể tính của hiện thực như nó vẫn đang hiện tồn. Một hiện thực “Không thể tin” nhưng có thẩm quyền tồn tại, nó cất lời chối từ những giới hạn của khả năng, để biểu đạt tính đa khả thể của cuộc sống:

Nhưng hình như

Mọi con vật trong nhà

Vẫn chế tác từ đồ phế thải:

Con mèo tam thể được sinh ra từ mớ giẻ rách?

Cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ lon beer?

Chim hoạ mi hót trong lồng là chiếc ấm vỡ?

                                                            (Không thể tin)

Như một lời phản biện với quan niệm thông thường, những hình dung mới làm thay đổi ý niệm về những cái mặc định. Sự thống ngự của chủ thể quan sát hiện lên ở đây để thách thức và đòi thay đổi. Tại sao lại gọi đấy là “chim hoạ mi” mà không phải là “chiếc ấm vỡ?” Ngôn ngữ mang tính võ đoán, nên cách gọi tên chỉ thuần tuý là ý niệm tương đối do con người áp đặt. Đọc hết bài thơ này của Mai Văn Phấn, con người hoàn toàn có thể tự đặt cho mình câu hỏi để tiếp nối bài thơ!            

Xuyên suốt tập thơ “Hôm sau” của Mai Văn Phấn, là chuỗi những mảnh ghép phi lô gíc của hiện thực. Nói phi lô gíc nghĩa là chúng ta đang bị chi phối bởi lô gíc của quan niệm, của sự áp đặt. Chính xác hơn đó là một lô gíc mới, nó không đáng bị khinh khi, bị chối bỏ. Sự quan liêu của những trật tự đã tồn tại làm con người mất đi khả năng kiến tạo những "cú mới" (JF. Lyotard). Đồng nghĩa với điều đó là con người cũ kĩ, tha hoá dần đi trong thể tính đã khuôn rỗng: Đêm tỉnh dậy. Đồ gỗ trong phòng mọc tua tủa nấm nhĩ. Bức tường chảy xệ xuống thành nắm đất nhão. Chiếc quạt mở ra lần cuối rồi khép lại làm ống tre (Quay theo mái nhà). Con người không thể lại nằm xuống và tiếp tục cơn ngủ của mình. Nấm nhĩ mọc trong đầu, tâm hồn chảy xệ, biến chất và lại giống trong guồng quay hỗn độn của đồ vật. Sự chân thực của huyễn tưởng đã nói lên thân phận của con người trong sinh môi ngày càng khắc nghiệt, quay cuồng bất trắc. Tác giả sử dụng huyễn tưởng và giấc mơ để biểu đạt những u uất của sự sống mà con người đang từng ngày bôn trải.

Trong tập thơ này của Mai Văn Phấn, niềm bi quan về thân phận của cái tôi cá thể hiện lên khá rõ. Cái tôi hoàn toàn mất đi bản lĩnh tự tôn đã tốn nhiều tâm sức mới giành được sau hàng chục thế kỉ bị khuất phục bởi vương quyền, thần quyền, bởi ý chí của đoàn thể. Nó ngạo nghễ, trịnh trọng tôn xưng suốt một thời Thơ mới, để giờ đây hoang mang hoài nghi chính bản thân mình. Vẫn còn day dứt trong thơ Mai Văn Phấn cuộc giao tranh giữa con người cá nhân cá thể với con người chức phận xã hội. Sự xung đột của "cái tôi", "cái siêu tôi" và "cái ấy" (lý luận nhân cách của S. Freud) làm con người mệt mỏi, rượi, muốn chết, muốn bóp cổ mình để hoá giải, chấm dứt sự giao tranh. Trong cuộc đối đầu ấy, "cái tôi" khát khao hướng tới một sự sống toàn nguyên, trọn vẹn nhưng không nắm chắc rằng mình sẽ sống sót. Dù sao, còn giao tranh nghĩa là còn có cảm giác mình đang sống: Tôi đi hết ga hết số. Răng nghiến chặt. Tay bóp cổ hắn. Kéo hắn lướt trên mặt đất... Đích đến cuối cùng là buổi lấy phiếu tín nhiệm đề bạt, trả lời phỏng vấn, chuẩn bị phong bao một đám hiếu, cuộc gặp gỡ một nhân vật quan trọng... (Đến trong ý nghĩ). Tự ngã và tha nhân đều bị soi xét bằng cái nhìn hoài nghi của chủ thể. "Cái tôi" uất ức vì bị cưỡng chế, "cái siêu tôi" bị giễu nhại bởi sự ngấm ngầm cựa quậy của "cái ấy" làm nên bị kịch hiện tồn của con người:

Đạo mạo nghe trộm điện thoại

Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang

Đạo mạo ký tên vào công trình khoa học

Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương

                                                         (Bài học)

Thức cảm về sự tha hoá không phải là xa lạ trong văn học thế giới và Việt Nam. Đó là sản phẩm của tình trạng con người bất lực, buông xuôi trước cám dỗ và sức mạnh cưỡng chế của điều kiện sinh tồn (Chỉ là giấc mơ, Biết thì sống, Chuyện còn dài, Nếu,...). Con người biết rõ mình đang từng ngày bị cuộc sống nuốt chửng mà không sao cưỡng lại được. Trong tập thơ này của Mai Văn Phấn, ám ảnh về cái chết hiện lên khá rõ. Bầu tử khí vẩn theo bóng quạ, xuyên qua màn đêm, reo rắc niềm kinh hãi lên sự yếu đuối đã kiệt quệ đức tin của con người:

Đừng đến gần bóng râm

Chúng là con quạ

Xoã cánh lúc hoàng hôn, rạng đông

...

Cả chúng ta nữa, đang cồn cào cùng dòng sông đói khát. Những giọt nước đục tìm cách lọt qua khe vải. Mặt nước khổng lồ ghìm nén xao động, mong giữ lại bóng người. Bật que diêm rồi, vẫn nhớ ngọn bấc còn rất xa. Vung tay lên, nói một mình trong bóng tối (Biến tấu con quạ).

Có chút gì chơi vơi trong tâm thức con người. Sự níu kéo, sự nỗ lực, sự buông xuôi,... rồi tất cả bị nuốt vào trong cái bụng tối đen của con quạ. Mĩ cảm của tác giả làm người đọc thực sự âu lo. Cái chết ẩn náu đâu đó trong những bóng râm, những khoảng tối rồi bất thần ập đến. Lễ thiên táng cho thân phận được chính thức bắt đầu.

3.

Với những dự cảm bất an về thân phận, thơ Mai Văn Phấn không ru ngủ người ta, mà đánh thức linh thị con người trong niềm khắc khoải hiện sinh. Tư duy và mĩ cảm của anh khởi sự từ niềm bất an ấy. Ngôn ngữ thơ biểu hiện tính phân mảnh của hiện thực trong một lô gíc mới. Những ngẫu hợp của đời sống chen chúc trong cấu trúc câu thơ ngỡ như thiếu mạch lạc. Nhưng rõ ràng đã đem lại cho người đọc một cảm giác chân thực về những gì đang xoay động quanh ta. Sự hoài nghi và chối từ trật tự, mĩ cảm cũ hướng tới một thế giới mà ở đó mọi khả năng đều có thể xảy ra. Sự trực nhận của cảm giác xui khiến tư duy phủ nhận những khuôn thước cũ đã chật hẹp, lỗi thời, những chuẩn mực đã méo mó, không còn khả năng định vị. Tâm thế của con người trong bối cảnh sống chất ngất rủi ro đã hướng tư duy và mĩ cảm của tác giả vào từ trường hậu hiện đại.

“Hôm sau” nghĩa là còn chưa tới. Niềm khải thị về nghiệm sinh dẫu đầy bất an nhưng sẽ có ý nghĩa cho một tương lai khả hữu hơn.

 Thanh Hoá, 03/3/2010 

NTT.

ĐÃ ĐĂNG: phongdiep.net    

 
TÌM KIẾM
Sắp xếp theo tên tác giả
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
BÀI ĐỌC NHIỀU

Khánh Phương

 

Lê Ngân Hằng

 

Nguyễn Việt Hà

 

Nhã Thuyên

 

Nguyễn Quang Thiều

 

Lam Hạnh

 

Y Ban

 

Đỗ Phấn

 

Nguyễn Nguyên Phước

 

Thúy Liên

 

Lý Đợi

 

Bão Vũ

 

Phan Trung Thành

 

Đinh Thị Như Thúy

 

Lê Vũ

 

Đặng Thân

 

Hoàng Ngọc Thư

 

Đỗ Quyên

Số lượt người truy cập:
60940
Trang chủ | Kết nối | Mai Văn Phấn | Poetry by MVP | Liên hệ  

Bản quyền trang Web thuộc về MAIVANPHAN.COM @2007
Email: maivanphan@gmail.com