… Cái vẻ nhàn tản lại hơi có phần lam lũ của bác xích lô chính là nét bổ sung hoàn hảo cho cảnh quan tinh thần của một đô thị xưa cũ và an lạc
Bây giờ, ngóng mỏi mắt ngoài đường cũng chẳng thấy một xe xích lô chở khách. Trong ngõ nhà bố mẹ tôi vẫn còn một ông già đạp xích lô, tuổi chừng ngoại sáu mươi, đen sạm, hom hem, chiếc xe của ông cũng nghèo nàn, cũ kỹ, với hai tấm đệm mút sơ sài có thể gập xuống hoặc nhấc ra, bọc vải giả da đã rách mất hai góc. Cả bọn khách có một người lớn và ba đứa trẻ lau nhau, tổng cộng chưa tới 110 ký lô. Ông xích lô tuổi ngoại sáu mươi gồng hai cánh tay công kênh phần đuôi xe, để cho cái đầu có bậc lên xuống hạ thật thấp xuống mặt đường. Hành khách đã lên đủ, một xe đầy nhóc. Chầm chậm, xích lô lăn bánh qua các phố, uể oải mà không nặng nhọc, chậm rãi mà chẳng thiếu tự tin. Ngồi xe xích lô dạo phố, giữa những người thân, do một người già hơn cả cha mình đạp xe chở đi, nghe được cả cảm giác trĩu nặng mà chắc chắn của từng vòng lăn, cái nảy lên rất đằm khi qua một chỗ đường mấp mô, không rõ vì sao thấy thân thương, gần như là một niềm hạnh phúc. Phố trộn lẫn nắng tươi với những bóng râm xanh màu mực của cây cối. Nhà nhỏ đường ngắn. Hiếm hoi có chiếc xe tải bặm trợn lỗ mãng chạy qua cũng chẳng vương một hạt bụi phía sau. Cái se lạnh đầu đông trong suốt lên trong nắng. Đến trước chỗ dừng, ông già rẽ hẳn vào lối ngõ, thận trọng dừng xe, lại công kênh, hạ thấp đầu xe cho khách lần lượt bước xuống. Lúc trả tiền, tôi thấy ông chẳng biểu lộ một chút nhẹ nhõm hay vừa ý, ánh mắt ông như đọng ở một cõi vô vi nào trên gương mặt cứng lại chẳng buồn chẳng vui.
Mỗi bận ở xa về nhà cũ, trong thành phố tôi đều chọn đi xích lô. Người chở xe có khi già cả, có khi là thanh niên hăng hái phóng bạt mạng. Nhưng giờ thì chỉ thấy hiếm hoi một hai ông cụ níu càng xe ngơ ngác đứng lẫn giữa đám san sát xe máy tắc xi đợi bắt khách ở bến tàu, những lớp người phu rong ruổi cuối cùng của một đô thị cũ xưa chưa chìm hẳn vào dĩ vãng. Xích lô hẳn là sự nối tiếp công hiệu và văn hoá của chiếc xe kéo thời thuộc Pháp, sự kết hợp khéo léo giữa nhu cầu di chuyển tốc độ trung bình của số lượng nhỏ hành khách với thành quả cơ giới hoá giản tiện đơn sơ của bộ xích, líp moay ơ chuyển động bằng sức người, cũng thừa hưởng từ thời Pháp. Xích lô không nói thách, người chở ra giá xứng với công độ nhật của đôi chân guồng, đôi tay giữ thăng bằng cho suốt cuốc đi. Các bà, các mợ lúc xuống xe, như với người phu xe kéo xưa, giúi thêm cho bác xích lô vài đồng lẻ gọi là cái công đi về cẩn trọng, cái độ lượng của người ấm no hơn. Gom góp những đồng thêm đồng thắt, bác xích lô cũng được tấm áo lành cho cu Tý ở nhà hay bữa rượu nhạt cuối chiều. Xích lô không nghiện ngập vì nghiện ngập thì không làm được nghề này. Có những người đạp xích lô từ khi còn trẻ tới lúc làm ông nội, rồi cũng được thong dong, lại có người Trời còn bắt phải sớm hôm lặn lội. Giữa đàng có kẻ lâm nạn, cũng chỉ bác xích lô dám dừng lại với một hai kẻ rộng lòng góp tay cứu giúp, không kể một lời công sá, chứ đâu dám có bác tài xe lớn nào vơ vào mình việc đó. An bần lạc đạo. Xích lô, là dư ba của cái thời mà người nghèo vẫn có chỗ đứng dù khiêm tốn trong xã hội, cái thời mà người giàu và người nghèo cùng bằng an, ung dung, trung thực mà tồn tại, không xô bồ chụp giựt, bất chấp trước sau.
( còn nữa...)
( …tiếp theo)
Tôi có một ông chú họ đạp xích lô. Vốn xưa chú tôi đạp sóng đi câu ngoài khơi xa. Chất phác và dễ mến, nhưng Giời cho cái điều dát gái, nên bốn mươi ba tuổi chưa lấy được vợ. Gái làng chắc cô nào cũng chê chú. Chú tôi bỏ quê lên thành phố, ngày đi làm công nhân ngoài Cảng, tối về bày trò đánh tú bôi râu với bọn trẻ chúng tôi. Rồi gặp được thím tôi, người còn son sẻ nhẹ nhõm, làm nghề nuôi dạy trẻ trong phố. Đứa con đầu lòng ra đời, chú tôi bỏ việc ngoài cảng, sắm chiếc xích lô chạy lòng vòng để được gần nhà, chăm lo cho gia đình. Cho đến khi xích lô thất thế, hành khách giờ có nhu cầu chở khối lượng lớn, chạy nhanh, thường thuê đội taxi tải, chú tôi lại bán xe, kiếm một chân đứng bơm xăng cho cây xăng tư nhân đầu phố. Chiều ngày 23 Tết năm đó, không lâu sau khi kho bạc nhà nước phát hành tờ bạc có mệnh giá lớn nhất, và vẫn lớn nhất trong thời điểm hiện tại, chú tôi đứng bơm xăng cho khách, vui vẻ nhận tờ giấy bạc “lớn nhất”, đếm trả lại tiền thừa đầy đủ. Đến cuối ngày nộp tiền vào quỹ, mới có người nhận ra đó là đồng bạc giả. Ông chủ cây xăng tức khắc trừ béng số tiền bị lừa vào tiền thưởng Tết của chú tôi. Năm đó Tết của chú thím và em tôi buồn. Ai khiến chú tôi đem cái chất phác của người đi biển ngày xưa, cái dễ dãi của bác xích lô vào phố…
Ơ hay, thời nay là thời nao rồi, mà còn nhắc mãi chuyện nghèo? Trong một xã hội còn đang phát triển, quy luật kinh tế đương nhiên cho thấy, người nghèo vẫn áp đảo người giàu về số lượng, đâu dám nghĩ tới số tiền chảy vào các nhà hàng, casino, trung tâm dịch vụ ăn chơi… mà bảo dân giàu. Nhưng, một xã hội không có chỗ đứng cho người nghèo, không chấp nhận người nghèo, về mặt tâm lý, và không có những điều kiện tương đối cho người nghèo tồn tại, khiến người dân phải “làm giàu” bằng mọi giá, chính là mảnh đất tốt cho tội phạm, ma túy, đĩ điếm, và vượt biên…
Ngày nay, các hãng du lịch lớn sắm hẳn một đội xe gọng kền sáng loáng có rèm che đỏ lộng lẫy để phục vụ khách Tây dạo phố. Người thường, vào lúc nhỡ nhàng cái đi thì làm cuốc xe ôm. Nhưng, tất cả đó không phải là “xích lô”, chỉ là phương tiện chuyên chở như mọi phương tiện khác, nó không bao hàm một cái nhìn và một lối sống. Nó không trở thành nét văn hóa, vì chính những người thực hiện không có ý thức làm cho nó trở nên hữu ích và đẹp hơn.
Tôi viết về xích lô như một kỷ niệm. Như ký ức của tôi xưa về một thành phố nhỏ vừa an hòa lại vừa khốc liệt, mà cứ mỗi lượt nước triều lên, các con sông cạn trơ lòng lại đầy ăm ắp một thứ nước phù sa đỏ rực, nước tù trong phố cũng dâng lên ngập vỉa hè sát ngay bên hông Nhà hát Lớn.
Tôi gắn bó với những gì có phần lạc điệu, có phần không chỉn chu hoàn hảo, bởi vì nó chính là cái thật. Cái thật của một thời không thể bôi xóa, chỉnh trang. Nó cảm động và đáng tin hơn ảo tưởng về cái phổ biến, cái hoàn hảo.
Joe, nhà phê bình nghệ thuật đến từ New York ngạc nhiên thốt lên; thành phố của các bạn lúc nào cũng có thể hòa lẫn trở lại với rừng ! Chắc bác ta không tưởng tượng nổi “rừng” trong phố đang bị tàn sát dần để bán gỗ với giá cắt cổ. Và nguy cơ của đô thị hiện nay chính là nhà chọc trời với hệ thống thang máy xập xệ và nước thải tràn ngập chung quanh. Xích lô, chẳng còn thì có chết ai? Chỉ vì, lòng tôi vẫn vậy, chỉ một cơn gió động là bỗng hóa rừng cây…
Hà nội ngày 28 tháng 11 năm 2007
-------------------------------
Tranh đầu trang của Lê Thiết Cương