& Những Phê Bình Cực Ngắn Của Đỗ Quyên Và Các Tác Giả Khác
1. TUỔI THƠ
Trời tối rồi
Những đứa trẻ bỏ cuộc chơi ra về
Khi nghe mẹ gọi
Một đứa còn ngồi lại
Đếm những hòn bi ăn được
Trước căn nhà vắng lạnh của mình.
+ Đỗ Quyên:
OK! Một bút pháp mới? Không để ý tính Luận đề, đây vẫn là một bài thơ “tình” nhẹ, hóm, và xót.
Cần thưởng thức ở mức luận đề và giễu nhại, sẽ thú hơn.
Hình ảnh hòn bi và “vắng lạnh” là át chủ bài.
Một bài thơ hay! Và nó dễ bị coi là thơ “trẻ con”; và nó hay chính ở đó!
2. NGẪU HỨNG
Một đứa bé hai tuổi
Uống nhầm một ly cà phê
Cười nói suốt ngày.
+ Đỗ Quyên:
Mừng bạn đã qua một mạch thơ khác trong dòng haiku Việt Nguyễn Đức Tùng của mình. Rất riêng, không là sự lặp lại haiku Nhật về cách tạo tứ, như hầu hết các haiku Việt khác; mấy hôm nay Chu Ngạn Thư lại haiku như thế trên damau.org.
Nhưng, cũng như các bài Anh, Chiến Thắng, Hai Vầng Trăng, bài này phải đi cạnh các bài khác thì mới đứng được. Đó là một thuộc tính của haiku, kể cả haiku của Nhật. Tạm gọi là tính "vịn vào nhau". Trong ba mạch kia, haiku NĐT "thắng" được thuộc tính này.
+ Mai Văn Phấn:
Mình đồng ý với Tiêu Dao Bảo Cự, “thơ của NĐT rất đa dạng, nhiều ý tưởng độc đáo, có khi phải ngẫm nghĩ lâu mới cảm nhận được.”
Mình không đồng ý câu này: “Ước gì thơ Tùng nhiều nhạc điệu hơn. (Mình nói nhạc điệu chứ không phải vần điệu. Theo mình vần điệu cũng tốt nếu không khiên cưỡng).”
Theo Phấn, thơ hiện đại cần triệt tiêu cả nhạc điệu. Thơ hiện đại khác với thơ truyền thống là cách thiết lập không gian thơ. Khi đã thiết lập được không gian, nhạc điệu được triệt tiêu, thơ sẽ gây hiệu quả hơn.
Rất cám ơn anh Tiêu Dao Bảo Cự đã vào web maivanphan.com và cho ý kiến chân thành về thơ Nguyễn Đức Tùng.
+ Đỗ Quyên:
1) Đó là vì thơ Hiện Đại và Hậu hiện đại luôn tạo vấn đề, không hẳn là nhờ tư tưởng. (Thơ NĐT thì có tư tưởng, luận đề rõ ràng; nhưng thơ như thơ Nguyễn Đình Chính - mới ra lò trên tienve.org - vẫn có nhạc điệu, dù không hề có gia cố của ngôn từ, tu từ.)
2) Tôi không tin rằng có một nhà thơ Hậu hiện đại nào không “sạch nước cản” về lục bát và các thơ có vần điệu, đường luật. Nhạc điệu ở các thứ thơ đó đã nhuyễn trong họ.
+ Nguyễn Đức Tùng:
Bổ sung với Mai Văn Phấn: Nhạc điệu của thơ hiện nay là một nhạc điệu khác hẳn mà những “người cổ điển” có thể không nhận ra.
Tuy nhiên cũng xin nói rằng, khi viết các nhà thơ đương đại vẫn RẤT CẦN chú ý đến nhạc điệu. Những bài có nhạc điệu không ngon lành, là vì mình chưa đạt tới điêu luyện, chứ không phải nó không có.
Nhạc điệu hiện nay không cần và không muốn dựa trên phép đặt vần và tu từ thông thường.
+ Đỗ Quyên:
OK với Phấn. Nhưng Bảo Cự rất chính xác khi nhận mình thưởng thức thơ theo lối cổ điển: Bảo Cự vẫn không sai, dù Phấn đúng. Chả “ai thắng ai” cả!
3. ANH
Cởi hết áo quần
Đứng trước gương
Anh lại gầy nhom
Như cũ.
+ Đỗ Quyên:
Sự phân vân thơ ở bài Anh đạt tới mức khó ngờ. Có lẽ từ bài Chiến Thắng. Không, từ Hai Vầng Trăng, NĐT đã vượt qua 3 tiêu chuẩn mà ĐQ định vị thơ chàng: Luận đề, Giễu nhại, và Thời cuộc? Ở đây, độ phân tâm mạnh, rẽ mắt người đọc vào lối riêng một cách bất ngờ, đã không còn nữa.
Cái hay của thơ - nói chung - là sự không cảm hết cùng một lúc, chứ không phải là cùng một lúc bị cấm cảm, Tùng ạ!
Tựa đề “Anh” ngoài ý làm cho bài thơ khó định tâm, còn tham dự vào thân bài như một hàng thơ, nhưng là một hàng thơ “nhị trùng”.
"ANH
Cởi hết áo quần
Đứng trước gương
Anh lại gầy nhom
Như cũ "
khác xa:
"......
Cởi hết áo quần
Đứng trước gương
Anh lại gầy nhom
Như cũ "
Ha ha! Khả năng tự biên tập của DIỆU cao hơn Xuân Diệu rồi: Nếu như bạn đặt nhan đề "Không nghe lời em dặn" thì hết còn... phân vân!
À này! Tựa đề đã sắm vai một hàng thơ “nhị trùng” chắc chắn đã có mặt trong nhiều bài thơ cổ kim đông tây, nhưng đây có lẽ là lần đầu tiên “made in ĐQ”? Vậy thì, cám ơn “Anh” - Nguyễn Đức Tùng!
+ Nguyễn Đức Tùng:
Mình học được nhiều ở các nhận xét của ĐQ và các nhà thơ bè bạn. Gần đây NĐT nhận ra một điều, đó là “phong cách liên hoàn” trong thơ của mình, đối với một số bài. Tính liên hoàn này là cái mà ĐQ gọi là đứng bên nhau hay vịn vào nhau.
+ Đỗ Quyên:
Chữ liên hoàn này rất cũ, nhưng đúng! “Liên” kết lại để cùng nhau “hoàn” thiện (thế giới ngôn ngữ). Con chữ của thơ haiku quả là… vô sản!
4. BÊN ĐƯỜNG
Mọi người dừng lại
Lắng nghe
Một con chim đang hót trên cành
Cho một con chim khác.
(Bài thơ đã đăng trên maivanphan.com và một phần lời bình của Đỗ Quyên)
+ Đỗ Quyên:
a. Tuyệt! Một bài điển hình của haiku Nguyễn Đức Tùng! Cái hay nhất là chữ “người”. Tứ tương đối lạ và dung dị. Luận đề theo cách vô cùng dịu dàng đến mức chỉ có “một con chim khác” mới hiểu nổi.
Nghệ thuật câu chữ và cú pháp thành công như không có từ thừa.
Chim Xuân Diệu hót cho Chim Huy Cận! Bravo!
b. Viết giữa 2 lần café: Không! Đây là một bài tuyệt cú mèo. Có thể thành một “bài thơ lớn” (tạo ra một ‘tính” nữa, độc đáo và sinh động, của thơ NĐT, ngay cả không cần để ý đến ba bút pháp Luận đề, Giễu nhại, Thời cuộc ở thơ chàng.
Có thể “phân tâm” bài thơ ở mỗi cách tiếp cận: Sự “điếc” của con Người với một số vấn đề; Sự cô đơn của một số thiểu số; Sự khó hiểu của một vấn nạn xã hội nào đó. Và còn nữa…Bravo Diệu của ta, ba lần!
+ Nguyễn Đức Tùng:
Vâng, Bên Đường khai phámột lối đi khác. NĐT có cái hên là được làm thơ “thực hành” để cho bạn bè như ĐQ, MVP phê bình “thực hành”.
Theo cách gọi đùa của ĐQ là có Bá Nha gảy đờn thì có Tử Kỳ nghe. Mỗi nhà thơ có lẽ đều có một Tử Kỳ như thế trong đời mình. Mặc dù không ai dại dột tự cho mình là Bá Nha.
Trong cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung, có một cặp bạn tri âm còn quái chiêu hơn cặp Bá Nha Tử Kỳ của ĐQ nữa. Đó là Lưu Chính Phong. Chính Phong người chính giáo, vì mê đàn mà chơi với Khúc Dương, là người Ma giáo. Lưu Chính Phong đành rửa tay gác kiếm, nhưng không xong, vì có phải Tung Sơn nhảy vào không cho bọn chính phái và tà phái “hòa hợp dân tộc” với nhau.
+ Đỗ Quyên:
Talawas đang post 2 bài thơ thế sự (thời cuộc) của Bùi Chí Vinh và link 12 bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm. Nhà thơ luận đề Nguyễn Đức Tùng chớ bỏ qua!
a. Có lần tôi tạm phân loại thơ (và NĐT đã so sánh với một cách phân loại của một cuốn sách ở Mỹ) là thơ Thời cuộc, thơ Chính trị, và thơ Luận đề (hai chữ Luận đề là “phịa” ra, ý muốn thay cho các chữ “triết lý” hay được dùng).
Nay bổ sung vào dòng thơ Chính trị, một nhánh, gọi là thơ Tình tự dân tộc (Quan trọng: Trong nhánh này có thơ Yêu nước. Nói thêm: Dòng thi ca Yêu nước của văn học Việt Nam thì tách hẳn ra và đứng một mình một cõi, có lẽ vì, đại ý, “dân ta có một tinh thần nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy…” Nói thêm nữa: Dòng thơ Cách mạng của văn học Việt Nam là hóa thân của 2 dòng Thời cuộc và Chính trị.) Hẹn còn nói thêm nữa, khi khác…
b. Loại thơ Thời cuộc của Bùi Chí Vinh có tính xã hội, thời sự. Đọc thấy thốn. Nhưng không sắc. Chỉ dành cho báo chí mà thôi, khó để đời. Đọc thơ họ Bùi cần có trí nhớ tốt về các sự kiện, vấn nạn xã hội. Và nói cho ngay là ít có tính văn học, dù từ vựng thì rất văn chương. Cá biệt có 1 số bài tuyệt sắc, nhờ nghệ thuật được thăng hoa, vượt lên trên thời sự.
c. Nguyễn Khoa Điềm với 12 bài vừa post ở web Vietimes - cùng 2 trường ca và nhiều bài thơ xuất sắc 30 năm qua - là 1 ví dụ về sự gặp gỡ hài hòa và thành quả (hơn cả Tố Hữu và Chế Lan Viên) về chủng loại thơ; Ở Nguyễn Khoa Điềm 3 dòng Thời cuộc, Chính trị (kể cả Tình tự dân tộc) và Luận đề rủ nhau hòa làm một. Đó là điểm trội, chứ còn thua 2 bác kia về độ tài hoa, biến báo của ngôn ngữ.
d. Về tính Luận đề: Với thi ca Nguyễn Khoa Điềm, luận đề không đọng trong 1 bài, 1 câu, 1 từ - kiểu đậm đặc như ở Chế Lan Viên, Nguyễn Đức Tùng, Lê Bi, Trần Mạnh Hảo… - mà lan tỏa thành một không khí quanh bài thơ. Thơ Trần Vàng Sao, trường ca Đỗ Quyên cũng như vậy, ở vụ này.
Chủ điểm Luận đề có thể viết dài và dai. Và nhiều người có thể viết, bàn loạn dù hay dù dở. Nó gắn bó với mức độ chính trị trong văn chương của người đó; nên dễ thành chuyện “hot” để cả Trong-Ngoài Việt Nam đều “xả súp bắp” được, ví dụ trong Hội Luận Văn Học Việt Nam dịp này.
5. CHIẾN THẮNG
Phá xong giặc Ân
Đông Ki Sốt
Phóng mình lên ngựa sắt
Dông tuốt
Không ở lại dự tiệc.
+ Đỗ Quyên:
1- Bạn, đọc xong bỗng nhiên ta... nhíu mày! Chuyện hiếm khi đọc thơ NĐT gần đây. Phải giữa "hai cái nhíu mày" (Thiện tai! Chớ không phải giữa hai café!) tôi nhìn ra: ở Chiến Thắng ông trộn khá kỹ 2 huyền thoại Đông-Tây mà không cái nào "chiến thắng" cái nào ở dấu chấm hết bài thơ.
2- Tôi không tin là ông muốn "giễu nhại", coi Gióng là Thánh Đông Ki Sốt An Nam! Nếu vậy thì đây là 1 bài thơ ở tầm thường thường so với các bài thơ trong dòng Giễu nhại cao vời đang có của NĐT! A men!
3- Nhịp thơ chảy rất tiết độ, căn cơ đến từng âm, chữ mà không cần tu từ. Này, tôi đang biên thảo gần xong 1 bài cho radio về Phùng Cung, thì Nguyễn Đức Tùng nhào vào như một sự thách đố: ĐQ sẽ tính chuyện "ai thắng ai" giữa Phùng tiên sanh và Nguyễn hậu bối, một cách công bằng, về haiku của hai vị.
4- Tâm sự: Hình như chiều này 20 năm trước, giỗ 100 ngày của cha tôi (và ngay sau đó tôi đi!)? Chắc ông thân tôi và đất Mẹ Việt Nam, lại nhắc: “Đi bao năm, con làm được gì?” Tôi tính thưa với cụ, với Việt Nam: “Chưa là bao, mà cũng không ít ạ! Tết này chúng con sắp có vụ bàn loạn thơ Mai Văn Phấn-Nguyễn Đức Tùng-Đỗ Quyên, và rồi vụ Hội Luận Văn Học Việt Nam nữa. Thư Ngỏ Hội Luận đã phóng đi; Thơ Nguyễn Đức Tùng một chuỗi rất đẹp đã phóng đi!”
+ Nguyễn Đức Tùng:
Bài thơ này khó. NĐT tính chưa gởi cho bạn bè đọc ngay. Nhưng “Cận của Diệu” thì phải đọc.
Bài này dĩ nhiên không phải là giễu nhại thông thường.
ĐQ nhận ra sự trộn lẫn Đông-Tây, nhưng để ý hơn nữa, sẽ còn là sự trộn lẫn giữa nhiều thứ: huyền thoại dân gian và huyền thoại bác học, huyền thoại và giai thoại, mơ ước đơn thuần và phê phán.
ĐQ lại cũng nhận ra không ai thắng ai.
Đông Ki Sốt cũng chính là thượng đế.
Amen.
+ Đỗ Quyên:
Chữ “khó” mà NĐT dùng trúng đó! Chắc phải thêm 1 cái nhíu mày nữa. Yên tâm, tôi không thể cho rằng đây là bài thơ dở!
Đông Ki Sốt đã làm bài thơ "khó" hơn là vấn đề Gióng.
Đông Ki Sốt cũng chính là Thượng đế? Sẽ nghĩ lại…
Chả nhẽ cái hay của bài thơ là ở sự "khó"? Luận đề thơ không tạo ra 1 sự "thắng" nào, ngay cả trong 3-4 cái trộn lẫn bạn vừa kể. Nhưng bài này không thể dở theo kiểu như 1 trò chơi, đánh đố.
6. HÒA GIẢI DÂN TỘC
Anh giận vợ
Ném cái ly xuống sàn
Vỡ tan từng mảnh
Khi anh về
Chúng đã được dọn rồi
Anh thở phào
Đi tìm cái chổi.
+ Đỗ Quyên:
Xuất sắc!
Bài thơ "bí mật" tới chữ cuối cùng: Chổi!
Tính Luận đề ẩn náu, chỉ ló ra khi bị tính Giễu nhại mách chỉ. Và tính Thời cuộc (nhờ tựa đề) cuối cùng đã dành thế thượng phong.
"Cái chổi" - xét cho cùng - đúng chỉ là phương tiện để "hoà giải". Bài này có thể còn phục vụ cho Hội Luận Văn Học Việt Nam được đó! Ha ha ha! Tự
giễu nhại! Chúng ta - Những nhà thơ – Những cái chổi!
Ngôn từ điêu luyện thêm chút nữa thì cho 1 bài thơ... điêu luyện!
+ Tiêu Dao Bảo Cự:
NĐT ơi, người ta đã dọn rồi mà vẫn đi tìm cái chổi. “Ngộ” quá ha?!
+ Mai Văn Phấn:
Bài thơ hay, thâm thúy.
Thơ Haiku ở Việt Nam, cứ chủ quan mà nói, khó có ai vượt được NĐT. Lời bình của Đỗ Quyên hay bởi sự đột khởi, lúc thẳng tuột, lúc bông lơn, lách vào từng tế bào như con dao mổ của bác sĩ giỏi.
7. HAI VẦNG TRĂNG
Năm tuổi, ta thức dậy sớm
Theo mẹ lên nhà ga
Mi cũng đi theo ta
Ra cửa
Rồi chạy theo ta trên xe lửa
Ôi vầng trăng lặng im
Anh của ta cũng không tin
Và bảo: hôm đó mi vẫn còn ở trong sân.
+ Đỗ Quyên:
1) Rồi, bạn đã thực sự qua 1 bút pháp mới: ngoài 3 cái (Luận đề, Giễu nhại, Thời cuộc) mà ta “định hướng”. Cũng như Bên Đường; bài này đã khiến ta không thể bàn loạn ngay tức thì như bất kỳ bài khác của NĐT trước đây.
Ừ, vẫn có thể bàn loạn loạn ngay; nhưng muốn để sau hồi 2 của ly café…
Tới đi bác tài!
2) Hai Vầng Trăng của Diệu đã thách đố Cận. Thua! Nếu bảo đó là bài thơ lạ, thì có lẽ là ở chỗ pha cái trữ tình với cái “sử truyện” (Sử truyện là khái niệm Cận “đẻ” ra để tạm lý giải Hai Vầng Trăng và Bên Đường).
+ Mai Văn Phấn:
Bài thơ Hai Vầng Trăng quái gở quá! Đọc thấy rợn cả tóc gáy, nên sẽ bàn luận tiếp sau. Chúc mừng NĐT.
+ Đỗ Quyên:
Đúng vậy; MVP à, thường ĐQ chỉ đọc 1 lần là “phán” được thơ NĐT; với bài này, mất cả một… ngày! Cái mà MVP gọi là quái gở, phải chăng nằm ở nhân vật “anh của ta” đột ngột nhảy vào giữa “ta” và “mi”, khiến cho vầng trng bị phân thân? Các vầng trăng vốn rất khó hiểu, ngay cả so với mặt trời!
( còn nữa)
- Tranh đầu trang của Nguyễn Quang Thiều