Trang chủ Kết nối Mai Văn Phấn Poetry by MVP Liên hệ  
Kết nối
Tin văn
Trả lời phỏng vấn
Thơ
Văn
Bài viết khác
Mai Văn Phấn
Sáng tác mới
Thơ
Trả lời phỏng vấn
Dư luận
Tiểu sử
Poetry by Mai Van Phan
Poetry
Interview
MaiVanPhan's profile
Translator's profile
Các tập thơ đã xuất bản
Vách nước - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng
Giọt nắng - Thơ Mai Văn Phấn - Hội văn nghệ Hải Phòng 1992
Nghi lễ nhận tên - Thơ Mai Văn Phấn
Cầu nguyện ban mai - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng 1997
Gọi xanh - Thơ Mai Văn Phấn
Giọt nắng - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng
Các tập thơ trên Website

QUAY THEO MÁI NHÀ
(công bố: 11.2007)

anhanhemem
(công bố: 10.2007)

 


Miên Giang IV

(tiểu thuyết - IV)

(tiếp)

VI. Ông Khoái

... “Ngày trước, khi tôi bằng tuổi cậu bây giờ, nhà tôi cũng khá giả. Bố tôi có xưởng in rất lớn ở phố Chợ. Tôi theo học nghề hoạ viên kỹ thuật; làm ở Ty Địa chính. Miên Giang lúc đó chỉ có một ông kỹ sư công chính đã đứng tuổi yên bề gia thất, với ba người kỹ thuật cỡ như tôi. Trong đám ấy tôi nổi nhất với “phoóc” người cao như Tây, tóc luôn chải sáp bóng mượt để ngôi giữa, ria con kiến, kính trắng gọng vàng ( chỉ là kính không số, người ta giễu là “kính cửa” ). Còn giày thì đơ cu-lơ ( hai màu ); ăn mặc, đi đứng, giao thiệp rất Parisient (dân Pa-ri). Tôi chơi thể thao, đàn ca và thạo nhảy đầm. Cuối tuần, tôi lên Hà Nội ăn cơm tám giò chả Hàng Buồm, rồi đi tiệm nhảy. Mùa nực xuống Hải Phòng tắm biển Đồ Sơn.  Các nhà giàu có con gái coi tôi như cục vàng mười. Nhưng tôi kiêu lắm, không thèm để ý đến đám con gái ở cái tỉnh lẻ này. Tôi tuyên bố với bạn bè rằng, tôi sẽ chơi bời thỏa thích cho đến năm ba mươi tuổi mới kiếm một tiểu thư con nhà đại tư sản, đại công chức ở Hà Nội hay Hải Phòng. ”   

“ Lúc bấy giờ nhà bánh Kim Phượng đang thời cực thịnh, có các chi nhánh ở khắp ba kỳ Bắc, Trung, Nam. Kim Phượng được coi là tư sản có tiếng trong nước. Đám con gái nhà ấy đẹp lắm, mà cũng kiêu kỳ, coi người như rác. Họ bảo ở Miên Giang chẳng có gã trai nào đáng mặt làm chồng. Khi muốn lấy chồng, họ sẽ lên Hà Nội hay vào Sài Gòn. Có hết duyên thì cũng phải tìm một thày ký ở Hải Phòng. Nghĩa là họ cũng tự cao tự đại giống như tôi vậy. Đấy là lời một cô con gái nhà Kim Phượng tôi nghe được trong một bữa cỗ cưới. Có lẽ họ đã nghe được tuyên bố trên kia của tôi, nên trả đòn.”

“ Tôi tức lắm. Cái dân thợ, người dính đầy bột đỗ xanh với mỡ lợn, dầu dừa, va-ni,... toàn những thức dễ ôi thiu, chứ cao sang quái gì mà dám có cái khẩu khí như vậy. Được, tôi sẽ cùng với mấy gã bạn quyết làm cho lũ con gái nhà ấy phải khóc dở mếu dở. ”

“Tôi lĩnh ấn tiên phong, trước khi mấy gã bạn của tôi ra tay. Thị trấn nhỏ xíu nên người ta cũng dễ quen nhau. Tôi nhắm vào cô Phượng, người đẹp nhất và cũng kiêu kỳ nhất, là con gái yêu của bà chủ hãng Kim Phượng, chính cái cô đã nói câu khiêu khích tôi trong bữa cỗ cưới hôm nọ. Ông cậu trẻ của cô ta, một tay chơi có tiếng, là bạn ăn chơi của tôi, được dùng làm nội gián. Cậu của Phượng mời tôi đi lại nhà Kim Phượng hàng ngày. Rồi tôi thành người thân trong nhà ấy. ”
Ông Khoái thích thú kể lại những thủ thuật “chim gái” của đám trai thời đó, những mẹo vặt với những câu nói và điệu bộ mà lũ thanh niên bây giờ coi là vớ vẩn, dở hơi. Tuy vậy, ông đã thành công bằng những mẹo vặt ấy.

Đúng ra, ông Khoái thất bại. Ông đã yêu và đau khổ vì cô Phượng. Họ yêu nhau thực sự và đệ nhị tiểu thư nhà Kim Phượng đã có thai. Họ yên trí sẽ được cưới nhau bình thường vì hai nhà môn đăng hộ đối.

“Nhưng lão chủ nhà Kim Phượng lại bất ưng phá cái tục mẫu hệ đã truyền mấy đời. Lão đòi quyền được phán quyết chuyện con gái. Lão chính là ông nội của tay Quân, bạn cậu đấy. Lão bảo tôi chỉ là thằng bẻm mép, tốt mã rẻ cùi, hữu danh vô thực. Rằng tôi dụng kế “ Mỵ Châu - Trọng Thủy” để chiếm  bí quyết nghề bánh và gia sản nhà Kim Phượng. Nếu dung nạp một kẻ như tôi, thì cơ nghiệp sẽ tan tành hết. Tôi bị từ chối thẳng thừng.

Tôi hạ mình van xin được cưới Phượng rồi đưa nhau đi nơi khác không cần của hồi môn. Còn Phượng thì doạ nhảy xuống sông Miên. Nhưng không ăn thua. Phượng bị giam chặt tại nhà một tháng trời rồi đột nhiên biến mất khỏi Miên Giang.

Tôi như phát điên, đến nhà Kim Phượng làm ầm lên. Người ta chìa ra trước mặt tôi tờ đơn tố cáo tôi là kẻ lừa đảo, làm hại đời con gái nhà lành với mưu đồ “đào mỏ”. Đơn của Phượng có xác nhận của mấy người bạn tôi và chính ông cậu của Phượng. Nhưng đó là đơn giả, chữ ký của Phượng cũng là giả. Chỉ có những lời xác nhận của các nhân chứng là thật.

- Sao những ông bạn lại hại bố như thế. - Lân hỏi.

- Đơn giản thôi. Tiền. Nhà Kim Phượng chẳng thiếu tiền. Với lại, bạn chơi bời thì bán rẻ nhau là thường.

Lão bố vợ hụt của tôi bảo, nếu câm miệng thì mọi chuyện sẽ êm thấm. Con gái họ ngu dại, bị tôi hại một đời. Họ không đập vỡ mặt tôi ra là phúc cho tôi lắm rồi. Nếu không biết điều mà làm ầm lên, họ sẽ đâm đơn kiện. Lúc ấy tôi đừng hòng tháo thân. Họ thừa tiền, không thèm tiền bồi thường của tôi, lại có thể bỏ tiền ra chạy cho tôi vào tù. Mà nếu tôi có ý định xấu xa gì khác nữa thì... họ sẽ thuê mấy thằng du côn cho tôi xuống sông Miên làm bạn với giáo Thức. ( Giáo Thức là gã chết trên sông Miên vì cô Dao ấy). Lão gào lên:“ Nhiều chữ như các anh rặt một lũ vừa hèn, vừa ngu, vừa đểu, đáng chết hết đi. Thà làm ra được hạt thóc hay cái bánh cho người đời nhờ. Đằng này, nói như rồng như biển mà làm thì toàn báo hại người ta.” Lão đau vì nghĩ rằng con gái lão bị tôi hại một đời.

Tôi xé tờ đơn, lồng lộn đi tìm manh mối về Phượng. Nhưng bặt vô âm tín. Cái thị trấn bằng bàn tay mà Phượng đã bay biến đi như một con chim.

Phượng bị đưa đi biệt tích. Tôi chẳng bao giờ được gặp lại cô ấy nữa. Có tin đồn, nhà Kim Phượng đưa Phượng đi Sài Gòn, thuê đốc-tờ Tây phá thai. Nhưng không may gặp phải kẻ mới ra nghề, non tay, nên chết cả mẹ lẫn con. Lại có tin Phượng phá thai xong được đưa sang Pháp sống với người bà con bên đó. Thời ấy, chuyện như thế đối với một gia đình gia giáo là tối quan trọng, phải tìm cách che đậy thật kỹ bằng mọi giá.

Tôi bỏ công thăm dò mãi rồi cũng được biết sự thật. Phượng không đi đâu xa cả. Cô đã chết vì đẻ non ở quê ngoại Đông Hải, quê cậu đấy. Con bé con của tôi thì sống được.

Cái biệt thự ấy ở một phố vắng có nhiều biệt thự của những nhà quyền quý. Con bé được nuôi ở đấy. Thỉnh thoảng tôi nhảy tàu hỏa về Đông Hải, đứng nhìn qua hàng rào sắt xem người ta bế con gái của tôi đi lại ngoài hiên ngôi biệt thự. Tôi đứng nhìn cho đến khi phải ra ga kịp chuyến tàu đêm về Miên Giang.

- Như tiểu thuyết cổ điển ấy. - Lân kêu lên - Sao bố không vượt rào vào trong nhà hét toáng lên, rằng nó là con của bố, rồi giằng lấy con bé. Lúc ấy bố còn trẻ, còn hăng cơ mà.

- Tôi cũng muốn như thế lắm. Nhưng thời kỳ ấy xưởng in nhà tôi dính dáng tới chuyện in ấn những văn sách quốc cấm. Bị bọn nó đốt. Việc kinh doanh của bố tôi tổn hại lớn, rồi nhà tôi bị phá sản.

Đúng là lúc đó tôi còn trẻ, có thể liều mạng vì một mục đích tâm huyết. Nhưng mà tôi không thể để con gái tôi nghèo khổ, sống cực nhục sau này theo cuộc sống của tôi, nên đành chịu. Tôi như mất hồn mất mấy tháng. Sau gượng lại được. Rồi sau tôi gặp Dao...

Lân phì cười:

- Rồi sau nữa, bố vừa khóc vừa đi theo chiếc xe tang người trinh nữ có bộ ria mê hồn. Một chuyện tình bi đát đã kết thúc bằng một chuyện tình bi đát mới.

Ông Khoái tỏ vẻ phật ý. Ông giận Lân ra mặt khiến Lân ngạc nhiên về sự thay đổi bất thường của ông bạn vong niên.

Phải mấy hôm sau ông Khoái mới tỏ ra bình thường với Lân, nhưng cũng từ đó ông không nói những chuyện lạ của Miên Giang nữa. Lân cố gợi, ông chỉ ậm ừ. Rồi bất chợt một hôm ông Khoái bảo Lân:

- Tôi sẽ dạy cậu môn “chỉ tự ”, thứ ngôn ngữ của người câm. Nếu cậu nói chuyện được với Miên thì sẽ còn biết được nhiều chuyện hay.

- Sao bố biết “chỉ tự ” ?

- Thời chúng tôi, những thanh niên thành thị thích biết những cái mà người thường không biết. Tôi còn biết viết tốc ký, biết đọc chữ nổi Bơ-rai của người mù, biết cả tín hiệu moóc-xơ nữa. Về môn nhảy đầm thì tôi từng được thiên hạ phong là “Miên Giang đệ nhất đăng-sinh”.

Lân hớn hở:

- Được rồi, con sẽ học tất cả những gì bố có thể dạy được. Bắt đầu là món “chỉ tự”.

Ông Khoái ngồi thừ ra, rồi thở dài bảo Lân:

- Tôi biết vì sao cậu chọn học môn “chỉ tự ” đầu tiên.

Một tuần lễ liền, ông Khoái truyền cho Lân cách dùng những ngón tay tạo hình các chữ cái quy ước để ghép từ theo lối chữ điện tín. Những ngón tay của Lân đau mỏi nhừ, giống như lần ông Khoái dạy Lân môn đánh máy chữ kiểu mười ngón. Lân bảo:

- Từ nay trở đi, con với bố sẽ công khai nói chuyện riêng bằng ngón tay trong cuộc họp. Tha hồ nói xấu trưởng phòng ngay trước mặt ông ấy. 

*
- Chào Miên. Cám ơn em đã cứu anh thoát chết đuối ở sông Miên.
- .......
- Em có hiểu anh nói gì không ?
- .....
- Hay là tại anh giơ ngón tay lung tung, không phải là chỉ tự ?
- Ai dạy anh biết tiếng người câm ? Anh nói chậm như trẻ con tập nói.
- Em nói nhanh quá, anh không hiểu kịp. Ông Khoái dạy anh chỉ tự.
- Bà chủ em bảo ông Khoái là người xấu.
- Ông Khoái là người tốt. Ông dạy anh học chỉ tự để cám ơn em đã hai lần cứu anh. À không, ba lần. Còn một lần trong mơ nữa.
- Là lần nào ? 
- Có lần trong mơ, cô Dao dụ anh xuống sông để dìm chết. Em đã ngăn anh lại.
- Em không hiểu. Mơ là thế nào ?
- Là khi ngủ ta thấy những chuyện như đang thức.
- Có nhiều lần khi ngủ em thấy mẹ.
- Thế nghĩa là em đã nằm mơ. Chắc mẹ em đẹp lắm.
- Em không nhìn rõ mặt mẹ.

Lân gặp Miên ở bờ sông và nói chuyện với cô bé bằng “chỉ tự”.

Cứ hai ngày một lần, Miên ra sông vớt rong nuôi đàn lợn. Nuôi lợn là trọng trách của Miên, ngang với việc xay đỗ. Đàn lợn được nuôi để lấy nguyên liệu làm bánh. Nhà Kim Phượng còn làm bánh nướng, bánh dẻo, dăm-bông; nhưng chỉ là những mặt hàng phụ. Hàng chính vẫn là bánh đậu xanh.

*

- Mỡ lợn dùng cho bánh đỗ xanh phải là mỡ của giống lợn ỷ. - Mẹ của Quân, bà chủ nhà bánh Kim Phượng nói với Lân, giọng trang trọng như giảng bài pha chút ngân nga kiểu cách của người tỉnh thành. Lân hiểu rằng mình đã được tin cậy và đang được truyền cho những bí quyết gia truyền.

Quân là một gã trai hời hợt, kênh kiệu theo lối con nhà giàu ngày xưa, coi khinh cái  nghề có dính dáng đến thực phẩm, nên bà mẹ đã trông mong vào cậu con rể đói ăn này. Lân tự giễu cợt mình như vậy.

- Nó không phải là dân Đông Hải mình. - Mẹ Quân nói với Lân về cậu quý tử - Nó xấu hổ vì là con nhà làm bánh. Hồi bé, bạn học gọi nó là “Quân bánh đậu” để phân biệt với một thằng Quân nữa là “Quân giò chả”. Nó về nhà khóc ầm lên đòi bố mẹ không được làm bánh nữa. Lớn lên, nó thề dù chết đói cũng không làm nghề bánh. Không có đậu xanh với mỡ lợn thì làm sao nó thành kỹ sư, mà lên mặt con nhà giầu? Con Hương thì như đồ hậu đậu, làm gì hỏng nấy, không thể kinh doanh được. Cậu cố học nghề này cho thật tinh, để dân Miên Giang biết rằng cũng vẫn đường, đỗ ấy, cách thức ấy, nhưng chỉ có bánh của người Đông Hải mới là “bánh ngự ”, bánh tiến vua.

Lân vâng dạ, chăm chú ghi chép những công thức chán ngắt về chế biến bánh đỗ xanh. Lân làm ra vẻ thế cũng chỉ vì những bữa ăn. Lân tự khinh mình.

-... Chọn mỡ phải là thứ mỡ dày mà không cứng, không bấy. Rán mỡ phải giữ lửa thật đúng độ. Để quá lửa, dù là rất nhẹ, mỡ sẽ thoảng mùi khét. Nếu non lửa, mỡ có mùi gây, hoi. Thế nào là đủ độ lửa? Làm nhiều khắc biết được từ cách thái miếng mỡ đến cách chọn củi, tiếp củi vào bếp, nhìn ngọn lửa. Còn về đỗ xanh thì công phu hơn, vì đấy là nguyên liệu chính...

Bỗng dưng Lân thấy thương Miên vô cùng. Có lẽ cô bé phải ăn đòn nhiều để hiểu được cách nấu cám lợn và điều chỉnh tốc độ quay của cái cối đá xay đỗ thô kệch như công cụ của nô lệ thời trung cổ.
Lân thường tìm cớ xuống xưởng bánh để được gần Miên, đỡ cô bé những việc vặt. Mỗi lần Lân xuống xưởng bánh, như có một luồng ánh sáng rọi trên mặt cô bé khốn khổ.

*

- Em có bị đòn bao giờ không ? - Lân hỏi Miên. Những ngón tay cô bé không động đậy. Rồi Miên “nói”:
- Bà chủ quý anh lắm. Bà muốn gả chị Hương cho anh. Em nhìn thấy bà ấy nói với anh Quân thế. - Người câm điếc nhìn miệng người ta nói cũng hiểu được.Lân gật gật đầu và giơ những ngón tay sát mặt Miên:
- Anh biết rồi. Bao giờ là ông chủ nhà bánh Kim Phượng, anh sẽ đánh đòn em vì tội cho lợn ăn không đúng bữa, làm lớp mỡ của đàn lợn dày mỏng không đều.

Miên nhìn Lân, mặt hốt hoảng, như muốn khóc. Lân thấy mình đã đùa ác. Anh quên rằng Miên không phải là người bình thường. Cô bé lầm lũi xay đỗ trong xó xưởng tăm tối; lủi thủi trên dòng sông vắng, không biết đùa cợt với ai bao giờ. 
- Em có biết nói đùa không ? Tức là... không nói thật ấy.
Những ngón tay Miên không động đậy.
- Anh xin lỗi. Anh nói đùa. Tức là... không phải như anh nói. Anh không muốn làm con rể nhà Kim Phượng. - Lân bất lực diễn đạt ý mình. Miên đứng lên gánh hai xảo rong nặng bước đi như chạy. Lân đi bên cạnh khẩn thiết “nói” rằng anh thương quý Miên vô cùng. Nhưng vô ích, Miên không hề nhìn những ngón tay cuống quýt của Lân. Có thể Lân đã “viết” ra những ký tự lộn xộn vô nghĩa. Một bà nhún nhảy gánh ngô đi ngang qua cười hi hí như ngựa, chế giễu Lân: Không biết con câm nhà bánh Kim Phượng à? Đẹp thì đẹp, nhưng cục mà khoẻ như vâm ấy. Cứ chọc ghẹo, nó cho một đòn gánh là toi mạng.

Những người nhà bánh Kim Phượng rồi cũng biết mối cảm tình đặc biệt của Lân với Miên. Và một lần chuyện trở thành quan trọng. Lân đã giữ chiếc roi một cách lịch sự trong tay bà chủ đang vụt tới tấp vào Miên. Cô bé trót cho đàn lợn đang kỳ vỗ béo ăn nồi cám bị quá lửa. Người ta vẫn coi Miên như một thứ bán nhân. 

- Bác đừng đánh Miên. Đêm qua em ấy thức xay đỗ khuya quá.

Quân cũng đứng đó, cau mặt giải thích:
- Nó câm điếc. Nói nó không hiểu. Phải đánh để tạo thói quen, phải biết đừng làm những gì để phải bị đòn.

Lân không che giấu sự phẫn nộ:

- Đó là cách thuần phục súc vật, gây phản xạ có điều kiện như người ta huấn luyện chó, ngựa.

Quân tức giận, nhìn Lân giọng khinh bỉ:

- Anh đã được truyền bí quyết làm bánh; có thể tự kiếm miếng ăn được rồi, không nên đến đây nữa. -  Quân giằn giọng khi nói “miếng ăn”. Lân trả miếng :

- Bí quyết... Để được gọi là “Lân bánh đậu” à? Tôi cũng giống như anh, không muốn người lúc nào cũng sặc mùi mỡ lợn dù là mỡ lợn ỷ được rán đúng độ lửa. Còn muốn hạch toán những “miếng ăn” đã đãi tôi, thì tính đi. Tôi sẽ trả hết.

Lân bỏ về. từ hôm đấy không đến nhà Quân nữa. Họ tuyệt giao, coi nhau như kẻ thù. Hôm quay về với bữa ăn trưa ở nhà ăn tập thể, Lân kể cho ông Khoái nghe câu chuyện. Ông Khoái bật cười: 

- Cũng một nhà ấy mà tôi thì bị xử tệ vì muốn lấy con gái người ta. Còn cậu thì bị bạc đãi vì không chịu lấy con gái người ta.

Lân bỏ dở bữa ăn và trút nỗi tức giận vào ông Khoái:

- Bác Khoái, cháu không khoái chuyện này lắm, nhưng bác thì hình như rất khoái. - Lân cố ý nhấn cái tên ông Khoái một cách khó chịu.  Lân giận ông Khoái mấy ngày như trước kia ông Khoái từng giận anh. Rồi chính Lân lại làm lành trước. Lại trở về với cơm gạo hẩm, đậu phụ kho mắm mặn, canh rau muống suông nhạt toẹt. Lân lại vét sạch những thứ đó và những thức ông Khoái sẻ cho. Vĩnh biệt vịt hầm, chả chìa, đậu phụ hấp nhồi thịt băm...
*
Nhưng, đêm mưa rét buốt như đêm nay, Lân thấy bứt rứt không yên. Lân hình dung ra cái ngõ hẹp đằng sau xưởng bánh nhà Kim Phượng. Có mấy lỗ cửa nhỏ thông gió trên cao, sát mái xưởng. Trèo lên nóc dãy chuồng lợn áp với xưởng bánh có thể nhòm vào xưởng qua lỗ thông hơi ấy. Lân hối hả mặc áo mưa đi. Cái ngõ hẻm tối đen, không một bóng người.

Lân định trèo lên nóc chuồng lợn thì nhìn thấy một người đã đang đứng trên đó, áp vào tường, nhòm qua lỗ thông hơi. Lân nhìn kỹ. Ông Khoái. Lân vội ngồi thụp xuống, cái áo mưa sột soạt thành tiếng. Ông Khoái vẫn như đang bị hút hồn vào ô cửa nhỏ. Lân giật lùi nép vào một góc khuất. Một lúc sau ông Khoái lập cập trèo xuống, run rẩy như đang trong cơn sốt. Ông tập tễnh bước đi dưới trời mưa, thân hình lòng khòng già sọm. Chờ ông Khoái đi xa, Lân trèo lên, nhìn vào trong xưởng bánh.
Ánh sáng đục của chiếc bóng đèn ám khói bụi cáu bẩn quen thuộc, nhưng không thấy Miên, không có tiếng cối xay thường ngày. Miên nghỉ xay đỗ. Miên ốm. Không phải. Miên đang ngồi tựa vào thành cối đá quay mặt vào tường, ôm đầu cúi gục xuống khóc. Tiếng khóc của người câm nghe thê thảm, ghê rợn. Không giống tiếng nức nở của người thường. Đó là tiếng gào thét vô thanh. Như thể nỗi uất ức bị kiềm chế đòi thoát ra khỏi cổ để được nổ tung. Tiếng gào thét giẫy giụa trong buồng ngực như một con vật sung sức vùng vẫy tuyệt vọng sau chấn song thép kiên cố của chiếc lồng hẹp. Miên lại bị đòn. Hay là vì không còn ai an ủi kiếp sống nhọc nhằn tăm tối của cô. Làm gì cho Miên bây giờ? Xông vào đưa Miên đi trốn như truyện cổ, xổ toẹt mọi trò kiểm điểm, phê bình, kỷ luật để sống với Miên, dù rằng chưa biết làm gì để sống. Nhưng còn người mẹ ốm yếu và những đứa em nhỏ ở Đông Hải. Lân hoảng hốt như lúc sắp chìm xuống đáy sông Miên. Nỗi sợ hãi vì cự khổ đói rét còn đáng sợ hơn là bị chìm xuống đáy sông Miên. Ngày mai ba mươi tết, Lân phải về Đông Hải. Nhà bánh Kim Phượng đã thù ghét Lân. Không thể để họ tố cáo Lân đã “quan hệ bất chính” với người làm công của họ, để ông Hoạch lại có dịp cho mọi người thấy tài năng của ông khi giải quyết một chuyện rất phức tạp trong đơn vị.

Hôm sau, trên đường ra ga, Lân rẽ vào nhà ông Khoái. Ông không có nhà riêng, phải ở nhờ người em họ. Lân muốn biết việc làm kỳ lạ của ông đêm hôm trước. Ông Khoái sốt li bì, nằm bẹp trên chiếc giường khung thép, đệm lò so. Khung thép ống mạ rỉ thủng lỗ chỗ, lò so đứt nát, nệm giường trũng gần sát đất như tấm võng. Cái giường “mô-đec lét-so” ấy là dấu tích một thời phong lưu của chàng công tử hào hoa tỉnh lẻ. Lân nói theo cách của hai người rất hiểu nhau:

- Bố bị cảm lạnh vì mưa rét đấy mà. Sao bố phải làm như thế ?

Ông Khoái mở cặp mắt đục nhìn Lân, đôi môi khô nhợt nhạt:

- Tôi thường đến đấy... Cậu thì mới đến lần đầu... Cậu yêu con Miên... Cậu đáng mặt đàn ông lắm... Còn tôi là đồ hèn... như thằng Cuốc nói.

- Bố nói gì, con không hiểu ?

- Ra ga đi, không thì nhỡ tàu... Sau Tết... tôi sẽ nói chuyện... Mà, cậu nên về hẳn Đông Hải. - Ông Khoái thở hắt ra rồi quay mặt vào tường như kiệt sức. Lân để lại cho ông gói đường cát vàng, phần tiêu chuẩn tết đáng giá nhất, rồi đi như chạy ra nhà ga. Chuyến tàu Đông Hải đang rú còi sắp rời ga.

*

Sau kỳ nghỉ Tết, Lân trở lại Miên Giang thì ông Khoái đã chết. Cảm thương hàn, tuổi già, nỗi thất vọng chán chường là trận đòn hội đồng đánh gục ông già cô độc khốn khổ. Người ta chôn ông hôm mồng hai Tết. Đám ma chỉ có mấy người của phòng Thiết kế, họ hàng và vài người quen. Một gã nhân viên phòng Thiết kế kẻ cho Lân nghe về đám tang ông Khoái, giọng dửng dưng:

- Có mấy mống lèo tèo đưa lão ra nghĩa địa. Chẳng phải tại mọi người đang nghỉ Tết mà vì quan hệ của lão chỉ có thế. À, còn có con bé câm của nhà bánh đậu Kim Phượng cũng đưa đám. Con ngố ấy lại đội khăn trắng. Chắc nó chẳng có cha mẹ thân thích gì nên lợi dụng đám ma của một lão không vợ con để đội tang nhờ.

 Có hai người khiến cho cuộc sống của Lân ở cái tỉnh lẻ này bớt đi nỗi chán ngán, u uất. Bây giờ chỉ còn Miên. Mà Miên thì như một nữ nô bị xích vào chiếc cối đá xay đỗ trong gian xưởng bánh tăm tối, không có cách nào gặp được. Mấy lần Lân đến ngõ sau xưởng bánh trèo lên nóc chuồng lợn, nhưng không hiểu sao những lỗ cửa thông hơi đã bị bịt kín. 

Chiều nay, Lân ra bờ sông, nơi Miên vẫn vớt rong. Lần gặp cuối cùng. Mẹ Lân ốm liệt từ lâu. Một người trong họ xa có chức vụ cao đã xin cho Lân được chuyển về Đông Hải. Mất ông Khoái có tay nghề lâu năm và Lân là cán bộ kỹ thuật trình độ cao, nhưng đơn vị của ông Hoạch sẽ trong sạch hoàn toàn. Người ta bằng lòng để Lân đi.

Lân ra bờ sông Miên, đi cầu may, nhưng cũng gặp được Miên. Hai người ngồi dưới một gốc cây bên bờ sông.

- Em có còn bị đánh mắng không ?
- Từ khi ông Khoái chết, không ai đánh mắng em nữa.
- Sao lại liên quan đến ông Khoái. Mà sao em đi đưa tang ông ấy ?
- Bà chủ báo tin ông Khoái chết, bảo em đội khăn tang đi đưa ma.
- Vì sao họ làm thế ?
- Em không biết.

Nhà Kim Phượng ngày trước đã xử tệ với ông Khoái, bây giờ họ ân hận, muốn đưa tang ông nhưng lại sợ dị nghị nên cho Miên là người ở đi thay. Lân nghĩ thế. Tội nghiệp ông Khoái. Không hiểu cái đêm mưa ấy, ông nhìn vào xưởng bánh làm gì. 

- Chiều mai anh đi khỏi Miên Giang rồi.
Cô bé sửng sốt, đứng ngây ra. Lân nhắc lại một lần nữa.
- Mẹ anh ở nhà ốm nặng. Anh phải về Đông Hải. Em ở lại cố giữ gìn, đừng để họ đánh đập.

Những ngón tay của Miên bất động. Rồi cô bé ôm mặt khóc. Lại những tiếng khóc vô thanh thê thảm như Lân đã thấy trong xưởng bánh. Bờ sông vắng ngắt. Lân ôm lấy đôi vai đang run rẩy của Miên. Cô bé nín khóc rồi chợt vùng khỏi tay Lân, vội vã xốc gánh rong lên vai đi như chạy. 

*

Lân đi dọc bờ sông Miên và tự hứa rằng nhất định sẽ trở lại Miên Giang, dù cái tỉnh lẻ này không thân thiện với anh, đã đem lại cho anh điều phiền toái và những nỗi buồn.

Đang là những ngày chiến tranh. Bến xe thị trấn chuyển sang bãi đất cạnh dốc chân cầu bên kia sông để tránh máy bay. Nửa đêm mới có xe về Đông Hải. Lân ngồi bên bờ dốc dưới ngọn đèn vàng quạch soi sáng một khoảng nhỏ dưới chân cột điện. Lân lấy một tập sách mỏng ra đọc cho quên đi mọi chuyện. Đó là tập thơ của một tác giả đồng hương với nhà thơ khao khát tự do và tình yêu, đã chết dưới lớp sóng Đa-nuyp.

Chỉ mong gặp lại nàng thôi
Nàng đi trong nắng hay ngồi dưới cây...

Miên gánh hai xảo rong ướt đi dưới nắng. Miên ngồi nghỉ dưới gốc cây bên bờ sông. Nhưng Miên chẳng có gì liên quan đến hình ảnh cô tiểu thư đài các ngồi đọc sách dưới tán lá dày giữa mùa thu nắng ấm của xứ sở đẹp đẽ ấy. Lúc này, trong gian xưởng tăm tối như hầm mộ, Miên đang đẩy cái cối xay bằng đá, thứ công cụ lao động thời tiền sử.     

Có bóng ai phủ lên tập thơ trên tay Lân. Tim Lân đập mạnh. Miên. Lân đứng phắt dậy, để rơi tập thơ trên cỏ, đưa hai tay như định ôm choàng lấy cô bé. Miên đặt một gói bọc khăn mùi xoa vào tay Lân. Những ngón tay của Miên nói:

- Em đem đến cho anh cái này.

Lân vội mở ra: Những phong bánh đậu xanh có hình chim phượng. Và một bộ khuôn bánh đậu xanh bằng đồng thau, má khuôn có hình chạm trổ tinh vi và hơi rỉ xanh như một cổ vật.

- Có ba bộ khuôn bánh cổ gia truyền của nhà Kim Phượng. Bộ khuôn này mẹ em lấy trộm của bà nội để cho bố em. Bố gửi lại cho em, bảo đưa cho anh đem về Đông Hải, mở xưởng bánh để kiếm ăn.
- Sao bố em biết anh. Bố em là ai ?
- Bố en là ông Khoái. Sáng nay bà chủ nói cho em biết. Bà ấy là chị của mẹ em. Lúc chiều, ông bác sĩ, người dạy em“chỉ tự”,  đã tìm gặp em đưa bộ khuôn bánh này và nói những điều bố em trối lại. Ông bác sĩ cũng là bạn bố em.

Người ta đem đứa bé về Miên Giang với câu chuyện bịa đặt: Một người đi đánh cá đêm đã nhặt được con bé bị bỏ rơi bên bờ sông Miên, đem bán cho nhà bánh Kim Phượng. Phải rất khổ công nhiều năm sau ông Khoái mới được biết cô bé câm xay đỗ cho nhà Kim Phượng là con gái mình. Khi áy ông đã già yếu bệnh tật chẳng làm gì được. Người cha khốn khổ chỉ được nhìn trộm đứa con qua cái cửa thông hơi nhà kho, trước khi chết. Như trước kia, ông chỉ nhìn thấy con của mình qua hàng rào sắt. Còn những người trong gia đình Kim Phượng giàu có sang trọng đã coi Miên là một thứ “tội nợ”mà họ phải chịu đựng.

- “Chuyện thật của tôi cũng éo le, trớ trêu, oái oăm chẳng kém những chuyện bịa trong xinêma hay trên sân khấu. ”- Ông Khoái cười, nói về mình như nói đùa. Lúc ấy Lân chưa biết hết câu chuyện.

Những ngón tay của Miên ra những dấu hiệu bối rối, không rõ câu gì. Đêm xuống rất nhanh. Tiếng máy bay mơ hồ gầm gừ từ xa như có một đàn thú dữ đang chồm tới. Từ trên bầu trời đen ngòm, bom sắp rơi xuống. Lân và Miên có thể sẽ biến mất như chưa hề có trên đời, cả tình yêu và nỗi khổ đau cũng biến mất. Lân ôm lấy Miên. Cô bé run rẩy như muốn khóc.  Lân hôn cô bé tật nguyền tội nghiệp. Chợt tiếng nổ và ánh sáng trắng rực lên khủng khiếp. Trong ánh chớp chói lóa như vụ nổ của những thiên thạch ấy... môi Lân đập vào hàm răng sắc như răng mèo đến chảy máu.

Mọi người nhốn nháo chạy xa cây cầu, vấp ngã giúi giụi. Lân giắt tay Miên chạy xuống chân dốc. Tiếng bom, tiếng đạn pháo vỡ toang bầu trời đêm. Lân ôm chặt lấy Miên, che chở cho cô bé. Một quả bom nổ rất gần hất hai người lăn xuống sườn đê, va đập vào những tảng đất đá đau điếng. Rồi Lân thấy tay mình được níu giữ lại, chân chới với trong khoảng không. Lân đang treo mình trên miệng một hố bom cũ ven sườn đê. Dưới đáy hố bom sâu như miệng vực có những thanh sắt nhọn chĩa lên như mũi chông. Miên nằm bên miệng vực cố nắm giữ tay Lân giúp anh trèo lên miệng hố.

- Em lại cứu anh thoát chết lần nữa.

Lân ngồi rũ bên cạnh Miên. Cái ba lô, gói bánh đậu xanh và bộ khuôn bánh đã rơi mất. Đám cháy sáng rực khắp vùng, soi rõ khuôn mặt hiền và cam chịu của Miên. Một ngón tay Lân đau buốt, chẳng biết là ngón nào. Lân giơ bàn tay soi lên ánh lửa. Máu. Cỏ gianh, gai dứa dại cứa. Có tiếng người kêu to:

- Ai về Hải Đông khẩn trương lên xe. Máy bay sắp quay lại.

Lân leo lên ô tô sau cùng. Đứng ở cửa xe, Lân ra hiệu cho Miên: 

- Về ngay đi. Rồi anh sẽ trở lại với em.

Miên đứng bên đường ngơ ngác. Trên đời này cô bé chỉ còn một mình Lân. Sao anh lại bỏ cô mà đi ?

Những chiếc đèn dù chói ánh sáng lân tinh soi rõ mặt đất lổn nhổn như mặt trăng. Chiếc xe lắc lư hồng hộc chạy trốn. Lân đưa tay ra ngoài cửa xe “nói” nhanh với Miên bằng những ngón tay rớm máu:

- Anh không bao giờ quên em. Khi cần một người duy nhất có thể giúp em, hãy tìm anh.

Về Đông Hải được ít ngày, Lân được giao một đồ án thiết kế khu công nghiệp lớn. Lân không còn thì giờ nghĩ đến những chuyện khác nữa. Hơn năm sau, Lân cưới vợ và Lân đã cố quên những gì thuộc về Miên Giang. Cả những chuyện đẹp đẽ ở đó cũng không làm Lân bận tâm. Như người vứt bỏ một quả táo ngon nhưng có sâu độc. Cái thời nghiệt ngã ấy, Lân đã phải mơ mộng để sống. Sau, Lân xin chuyển vào văn phòng đại diện của công ty ở phía nam.

Có người cùng cơ quan ngoài Bắc vào Sài Gòn chơi, gặp Lân, cho biết, sau ngày Lân vào Nam vài tháng, có một cô bé câm đến Đông Hải tìm anh. Cô ta hớn hở chìa ra mảnh giấy viết tên Lân. Tay gác cổng cơ quan, một gã vui tính, đã cười to chỉ lên trời, ra hiệu rằng Lân đã bay đi rất xa rồi.

Cô bé bỏ đi, mặt buồn rười rượi. 

*

Ông Lân đeo kính ngắm kỹ bức tranh Chiều tỉnh nhỏ. Đã hơn ba mươi năm. Liệu trên đời này có thật một thị trấn với những con người như thế? Giá như còn bộ khuôn bánh đậu xanh bằng đồng với hình chim phượng khắc chìm. Giá như còn tập thơ có những câu thơ:

“Chỉ mong gặp lại nàng thôi...
Nàng đi trong nắng hay ngồi dưới cây... ”

Giá như còn những thứ đó để minh chứng, để nhắc nhở. Rất có thể Lân sẽ mở xưởng bánh đậu xanh và đưa cô bé Miên về Đông Hải. Nhưng chẳng còn gì cả. Chiến tranh. Và cuộc đời đã có hàng ngàn mãnh lực để biến đổi hoàn toàn một con người thành một người khác hẳn.

Hay là ông Lân cũng đã vân du vào một bức tranh thế này. Như lão Hư đã đi vào cảnh vẽ trên chiếc bình cổ. Miên Giang là một giấc mơ cũ với những chuyện vô lý tức cười và đáng buồn. Một Giấc mộng Dương Châu”.

Nhưng, còn câu nói bằng những ngón tay rớm máu dưới ánh sáng đèn dù lân tinh:
- “Anh khoong bao giowf queen em. Khi caanf mootj nguwowif duy nhaats cos theer giups em,  hayx timf  anh”         

PHẦN PHỤ LỤC:
Đọc xong bản thảo truyện này, ông Lân viết thư cho tôi:
...Gần đây một người bạn cũ ở đó gọi điện cho tôi. Miên Giang ( theo cái tên anh đặt ), phải, thị trấn Miên Giang có thật. Sông Miên đã bị lấp gần hết và được gọi theo tên con phố mới song song với nó. Dòng sông chỉ còn như một cái lạch, và nước không được sạch lắm. Một cây cầu bê tông bắc qua, nối dãy phố có ngôi nhà của phòng Thiết kế với bờ bên kia..
Những con đường rải đá củ đậu được thay bằng đường rải bê tông at-sphan. Hai bên đường, những cây bàng tán thấp đã được chặt bỏ cho thuận tiện giao thông.  Chẳng biết như thế có tốt hơn cho một tỉnh nhỏ không. Ngôi nhà thờ vẫn còn, thỉnh thoảng được quét một nước xi-măng, như người ta đã làm với tháp Rùa ở Hà Nội. Mong rằng cái chuông cũ chưa bị thay. Thời ấy tôi đã viết những câu thơ nghiệp dư về tiếng chuông ấy:

   ... Tiếng chuông rơi  từ  chót vót
Những giọt chì xám bỏng sôi
Rỏ mãi từng giọt, từng giọt
Làm thủng lỗ chỗ hồn tôi...

Anh có thể lược bỏ hoặc hư cấu thêm gì đó, nhưng xin hãy viết thật đúng về cái tay Cuốc ấy. Trưa hè nắng rừng rực như lửa, Cuốc đổ gần hết nồi nước sôi của mọi người vào một cái chậu men sứt sẹo, rồi bưng uống sùm sụp. Bộ quân phục cũ trên thân hình khổng lồ của hắn ướt sũng mồ hôi. Ông Khoái cáu, bảo hắn: “Sao không lấy cái “bidet” mà chứa cho nhiều hơn?”. Mặc dù Cuốc không hề biết “bidet” là cái chậu vệ sinh của phụ nữ phương Tây, nhưng cặp mắt đỏ sọng của hắn trợn lên dữ tợn: “Để cho ông uống bằng cái ấy, nhá!”  Thế là hắn cũng thông minh đấy chứ.
Và hình ảnh thật về ông Khoái ( ông VNC ): Một người đàn ông thiểu não bước trên hè ngoài hàng rào nhìn vào ngôi nhà có đứa con gái của mình. Đó là dãy phố cũ ông không bao giờ quên, có tên tiếng Pháp là Giắc-canh; có lẽ viết ra là Rue de Jacquin hay Jarclin gì đó, thuộc thành phố anh đang sống. Mộ ông Khoái chắc đã thất lạc từ lâu vì sự mở mang và đổi mới đô thị.  Ước gì được thắp một nén hương trên mồ ông.
Còn Miên...
Bức thư bỏ lửng, như một sự bối rối.
................                                                                                
B.V.

 

Ý kiến của bạn về bài viết này:
Tên người gửi
Email
Tiêu đề
Nội dung
 
Chú ý: Ý kiến của bạn phải được Ban Quản Trị duyệt mới dược hiển thị

Một số ý kiến đóng góp về bài viết này:

 

 
TÌM KIẾM
Sắp xếp theo tên tác giả
BÀI ĐỌC NHIỀU

Nguyễn Bình Phương

 

Đặng Thân

 

Dương Kiều Minh

 

Đoàn Minh Hải

 

Nguyệt Phạm

 

Đỗ Kh.

 

Lê Vĩnh Tài

 

Hoàng Ngọc-Tuấn

 

M.Đ.Triều Tâm Ảnh

 

Trịnh Cung

 

eL.

 

Khánh Phương

 

Lê Ngân Hằng

 

Nguyễn Việt Hà

 

Nhã Thuyên

 

Nguyễn Quang Thiều

 

Lam Hạnh

 

Y Ban

 

Đỗ Phấn

Số lượt người truy cập:
Trang chủ | Kết nối | Mai Văn Phấn | Poetry by MVP | Liên hệ  

Bản quyền trang Web thuộc về MAIVANPHAN.COM @2007
Email: maivanphan@gmail.com