Trang chủ Kết nối Mai Văn Phấn Poetry by MVP Liên hệ  
Kết nối
Tin văn
Trả lời phỏng vấn
Thơ
Văn
Bài viết khác
Mai Văn Phấn
Sáng tác mới
Thơ
Trả lời phỏng vấn
Dư luận
Tiểu sử
Poetry by Mai Van Phan
Poetry
Interview
MaiVanPhan's profile
Translator's profile
Các tập thơ đã xuất bản
Vách nước - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng
Giọt nắng - Thơ Mai Văn Phấn - Hội văn nghệ Hải Phòng 1992
Nghi lễ nhận tên - Thơ Mai Văn Phấn
Cầu nguyện ban mai - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng 1997
Gọi xanh - Thơ Mai Văn Phấn
Giọt nắng - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng
Các tập thơ trên Website

QUAY THEO MÁI NHÀ
(công bố: 11.2007)

anhanhemem
(công bố: 10.2007)

 


Miên Giang III

(tiểu thuyết)

(tiếp) 

IV.  Màu nước giếng cổ

Nhà lão Hư ở cuối phố Khách này cậu biết chứ? - Ông Khoái vừa mài thỏi mực tàu để can bản vẽ kỹ thuật, vừa kể.

Lão Hư có người cháu nội là họa sĩ làm ở xưởng tạo mẫu của xí nghiệp Gốm sứ Miên Giang. Lân quen biết người họa sĩ này. Những phần khuất của câu chuyện, ông Khoái không biết, chính anh họa sĩ kể cho Lân nghe. 

Cơ ngơi của lão Hư là một kiểu nhà cổ của những dòng họ danh giá giàu có thời xưa. Toà ngang dãy dọc, tầng tầng lớp lớp. Tài sản như núi từ mấy đời trước truyền lại, đến lão Hư thì bị phá tán sạch. “Toạ thực sơn băng” mà. Của cải tưởng mấy đời sau ăn cũng không hết, nhưng cuối cùng chỉ còn cái xác nhà nát. Vì rượu, vì cái máu giang hồ bất tử, lang thang chơi bời của lão Hư, người kế nghiệp đời thứ mười dòng họ Dương. 

Lão Hư nổi danh khắp vùng quanh Miên Giang vì thói ngông cuồng khi còn là một công tử con ông chủ xưởng cưa Dương Gia.

Cậu Hư có riêng một chiếc thuyền buồm lớn để rong chơi, một du thuyền, như cách gọi bây giờ, chở đầy rượu ngon thả trôi quanh năm trên sông Miên. Trên thuyền của cậu Hư toàn những tay chơi rách trời rơi xuống, đêm ngày say khướt hát xướng với đám nhà trò con hát. Dọc sông Miên cho đến cửa sông Thái Bình, chiếc du thuyền có buồm màu chàm non của cậu Hư đi đến đâu là nơi ấy vui như hội. Thuyền đậu lại bến nào, cậu Hư cho dựng rạp diễn trò miễn phí cho dân chúng xem. Những kẻ bất đắc chí, những người lập dị và cả những cao thủ trong giới đạo tặc thảo khấu cũng xuống thuyền, cậu Hư hậu đãi tất. Có lần, chủ khách nằm lăn lóc trên sạp thuyền qua đêm, khăn áo đẫm sương, sáng ra mới nhìn rõ mặt nhau. Chủ thuyền hỏi một người mặt trắng, dáng nho nhã nằm cạnh mình:

- Xin hỏi khí không phải, quý bằng hữu là ai vậy?

- Dạ. Tôi là Văn Môn học trò thành Nam, hỏng thi về qua thấy thuyền vui, xuống xin chén rượu giải sầu.

Cậu Hư  thân mật vỗ vai Văn Môn:

- Học hành thi cử làm gì cho khổ. Đỗ đạt thì mũ cao áo dài vào luồn ra cúi, vinh mà nhục. Trượt thì hận trời giận thân, đời khinh chê. Sao không cứ chơi cho sướng.

Văn Môn gật gù ngẫm nghĩ.

Chủ thuyền lại quay sang hỏi một người mặt đen có râu quai nón đang gối đầu lên đùi mình. Người này ngồi dậy giụi mắt, rồi chỉ tay vào mấy gã hình dung cổ quái nằm cạnh, đao kiếm cồm cộm trong bọc gối đầu, nói:

- Đình Lực này làm nghề buôn không vốn trên vùng Ba Bể, nghe danh cậu Hư họ Dương ở Miên Giang là người hào phóng, nên cùng mấy anh em rủ nhau đến nghe hát nhờ.

Cậu Hư bật cười ha hả:

- Hay lắm. Người ta vẫn gọi các bác là “quan”. Thuyền này có duyên mới được các quan bác ghé thăm. Đám đạo tặc xưa đi cướp thường bôi nhọ nồi lên mặt, xưng là “quan” và bắt các nạn nhân cũng phải gọi họ như vậy. Vì họ thèm khát được làm quan, hay muốn làm cho hành vi cướp đoạt trở nên hợp pháp giống như sự vơ vét của đám tham quan ô lại.

Cậu Hư sai làm cơm rượu trọng đãi cả bọn.

Thuyền cậu Hư  trôi vô định, nhiều lần giạt sang tận Trung Quốc, kết giao với dân giang hồ quanh vùng Vân Nam. 

Về già, lão Hư thường ngồi hàng giờ trước một chiếc bình sứ cổ đặt giữa nhà, ngắm nghía, mơ mơ màng màng, nửa thức nửa ngủ. Chiếc bình là của gia bảo truyền lại từ những đời trước. Bình sứ Trung Hoa cổ, vai bình đề hàng chữ  Đại Minh Thành Hoá niên chế, tức là bình được chế tạo vào đời Minh Hiếu Tông - Chu Kiến Thâm (1465 - 1488), có kích thước phi thường, người đứng kiễng chân giơ tay với cũng chưa tới miệng bình. Bình cổ mà cao như thế là cực hiếm, trong thiên hạ khó có cái thứ hai. Loạn thiên loạn thế, binh lửa can qua, báu vật kỳ vĩ lại dễ vỡ như vậy làm sao tồn tại được.

Dưới đáy bình có khoan một lỗ bằng đồng xu, chắc người chế bình phòng lụt lội nước dâng đẩy bình trôi nổi va đập vỡ mất, vì bình ấy chỉ để ngắm chứ chẳng thể đựng gì được.

Lão Hư coi chiếc bình như vật tổ. Lão bảo đó là bảo vật trấn trạch, đem lại yên ổn cho gia tộc. Người thông hiểu tập quán nhân gian thì nói:

- Sách cổ dạy: Vật trấn trạch phải là thạch khuyển hoang viên, tức là chó đá chôn ở vườn hoang, nhờ pháp sư cao thủ làm lễ rước về. Hoặc nghịch trúc tiêu là một ống tiêu bằng trúc treo ngược trên vách. Có khi là một thanh cổ kiếm. Có nơi là tượng Quan Vũ. Chẳng thấy ai nói đến trấn trạch bằng bình sứ.

Lão Hư bác bỏ ý kiến đó, bảo:

- Cụ thân sinh tôi truyền lại rằng: “Bình” là “Bình ổn”, “Bình yên”, “Bình hòa”. Gặp tai ương mà “Bình tâm” thì có thể chuyển họa thành phúc. Gia trạch được thế là đại cát.”

Thật ra, tra tự vị thì chữ “Bình” chỉ cái lọ miệng nhỏ bụng phình để đựng chất lỏng, viết ra khác hẳn với chữ “Bình” trong “Bình ổn”, “Bình yên”... Đồng âm dị nghĩa. Nhưng một anh thợ mộc phất thành ông chủ như cụ tổ họ Dương tuy lầm lẫn chữ nghĩa mà nghị luận được như thế cũng là khá.

Đến đời lão Hư, nếu chiếc bình không được một cụ tổ từ đời nào trước cho gắn chặt với nền nhà bằng đinh đồng lớn chẻ đuôi cá xuyên qua lỗ đáy bình, trám kỹ bằng vữa trộn mật, thì cũng bị lão bán đi từ lâu rồi.

Cụ tổ lão Hư xưa làm nghề buôn gỗ. Bây giờ vẫn còn dấu tích xưởng cưa Dương Gia bên bờ sông Miên cuối thị trấn, vẫn là đất họ Dương, nhưng nhà xưởng tiêu điều hoang vu, cỏ gianh ngập đầu. Thuở thịnh vượng, có lần cụ tổ họ Dương ngược lên phía Bắc tìm mua bằng được chiếc bình hiếm ấy của người Tàu, đóng cũi chèn rơm cho lên bè xuôi sông Cái. Vòng vèo qua bao nhiêu ghềnh thác hiểm trở trên Lục Đầu giang. Tốn kém hàng đống tiền cho các quan binh trấn giữ các bến. Mấy phen, các cao thủ được thuê áp tải phải so côn đọ kiếm đương đầu sống mái với bọn thủy khấu. Mất ba tháng ròng, chiếc bè chở bình mới về đến sông Miên.

Cụ tổ cho nâng gian giữa ngôi nhà gỗ lim năm gian thành mái chồng diêm sơn son thiếp vàng để đặt chiếc bình quý. Cụ là người nghĩ ra chuyện tìm mua chiếc bình lớn làm vật trấn trạch. Cụ cho làm bức đại tự đề “Trấn trạch đại bình” treo ở xà ngang.

Một ông bạn thân, là người học hành uyên bác và phóng túng thì nói cho cụ thêm đắc ý:

- Chẳng cứ là Thạch khuyển hoang viên, Cổ kiếm hay Nghịch trúc tiêu. Vật trấn trạch có thể là thứ độc đáo, mà đắc dụng đệ nhất là cổ vật. Lấy “Tứ chuẩn” của nghề chơi đồ cổ mà định giá trị thì là: Cổ, Linh, Tinh, Quái. Bình này hội đủ tứ chuẩn. Chỉ riêng cái vĩ đại của nó cũng chiếm nhị chuẩn là LinhQuái rồi. Sự to lớn dị thường chính là Quái. Linh khí thời cổ ắt còn lẩn khuất đâu đó trong lòng bình, ấy là Linh. Về cái chuẩn Cổ thì đã hẳn. Tuy chẳng phải là đồ thời Ân, Thương, Chu, nhưng cái dáng vĩ đại đã làm cho bình có ngôi vị độc tôn. Cho dù là Tần, Hán hay Đường, Tống nhưng chỉ là đồ mọn thì cũng không bằng sự kỳ vĩ của Minh, Thanh hậu thế. Còn về sự Tinh thì những nét vẽ thủ công trên thân bình và chất men vỏ bình khiến cho người kỹ tính nhất cũng phải thừa nhận là tinh vi tuyệt xảo.    

Thân bình dáng thon, men nền màu ánh xám chì trong suốt, có sách gọi là Cố tỉnh thủy tinh - Màu của nước giếng cũ, vì  nhìn có độ thâm trầm như nhìn qua làn nước giếng cổ, là loại men cực hiếm. Dân chơi đồ cổ gọi tục là men “trứng ung”, lấy màu vỏ trứng gà ung làm tên. Không rỡ ràng như men Xêlađông đời Tống nhưng có sức hấp dẫn kỳ lạ. Còn sang hơn cả men “Vũ quá thiên thanh”, thứ men quý đời Đường mang màu trời sau cơn mưa. “Trứng ung, nội cung cũng hiếm”. Tìm trong cung vua cũng ít thấy loại đồ sứ có màu men này. Trên thân bình vẽ cảnh sơn thủy; có một tòa cổ tự lầu gác san sát trên đỉnh cao sơn mờ ảo. Xa xa là trường giang cuồn cuộn, mây núi trùng điệp. Hình vẽ theo phép phối cảnh đẳng trắc kết hợp tẩu mã họa đồ.

Lão Hư ngồi mê mẩn hàng giờ, nhập định du hồn vào trong cảnh vẽ trên thân bình. Lão nói rằng đã trở lại được một nơi rất thú vị mà lão từng đi qua. Thời kỳ lang bạt ở Giang Tô - Trung quốc, lão đã đến ngọn núi này, ngôi chùa này, nhưng lúc ấy phong cảnh hoang vu không một bóng người. Còn bây giờ có lần nhập thần ảo du vào chiếc bình, lão đã được tiếp kiến vị sư già đầu trọc mặc cà sa đứng giữa sân chùa như trong hình vẽ.

Lão Hư kể cho nhiều người nghe về những chuyến đi vào trong cảnh vẽ trên chiếc bình cổ, như câu chuyện bịa đặt:

- Tôi leo lên theo các bậc đá này. Mệt bở hơi tai, phải bám vào những cành cây ven đường mà nhấc từng buớc một. - Lão chỉ vào hình vẽ trên bình: - Đến chỗ này, tôi trượt chân, suýt lăn xuống vực, may bám được chùm rễ cây này đây. Rồi cũng đến được cổng chùa. Chính là cái cổng này, trên đề ba chữ Huyền Không Tự. Ấy là sau khi tiếp kiến hoà thượng trụ trì, lão Hư mới biết được những chữ này. Đó là dạng chữ giáp cốt viết trên mai rùa, xương thú thời thượng cổ, bây giờ ngay ở Trung Quốc cũng ít người đọc được; chỉ có những pháp sư tinh thông các bi ký, thư tịch cổ, chuyên thảo bùa chú mới biết. Sau, có một ông già người Tầu bán thuốc rong qua nhà, lão Hư nhờ đọc thì đúng là ba chữ Huyền Không Tự.

- Tôi kéo dây chuông gọi. - Lão Hư kể - Một tiểu hòa thượng ra chắp tay chào, dẫn vào trong. Vị hoà thượng trụ trì xưng pháp danh là Giác Mộng Dương Châu vồn vã mời tôi vào trai phòng, tiếp trà rồi nói: “ Lão ni cũng họ Dương, có duyên với Dương thí chủ từ tiền kiếp. Lão ni mong đợi thí chủ đã mười năm nay. Đợi, chỉ để nói một điều.”

Lão Hư nhấp chung trà nóng, hương vị trà thanh cao làm lão như nửa say nửa tỉnh. Xong tuần trà, Dương hòa thượng ghé tai lão Hư nói nhỏ câu gì đó, rồi lạnh lùng bỏ lên gác, để mặc khách ngồi thừ ra. Đến khi có tiếng chuông vang lên, lão Hư chợt tỉnh, vẫn thấy mình ngồi trước chiếc bình.

Lão Hư không cho ai biết vị hòa thượng họ Dương đã nói gì với lão. Cái pháp danh Giác Mộng Dương Châu ấy gợi cho những người am tường Hán học, tinh thông Đường thi, nhớ đến bài tứ tuyệt “Khiển hoài” của Đỗ Mục, có những câu: “... Lạc phách giang hồ tải tửu hành... Thập niên nhất giác Dương Châu mộng... ” -         Chở rượu đi khắp sông hồ như kẻ mất hồn... Mười năm mới tỉnh giấc mộng Dương Châu. Lão Hư, ngoài mỹ tửu, mỹ nữ và những quân bài ra, cũng được học vài chữ Hán, nhưng mù tịt về thơ Đường, chẳng biết Đỗ Phủ, Đỗ Mục là ai. Vậy mà không hiểu sao lão lại kể ra được những điều ấy. Chẳng lẽ lão đã thật sự trải qua cuộc vân du vào thế giới lạ lùng của chiếc bình cổ?

Không rõ Giác-Mộng-Dương-Châu thiền sư đã nói gì với lão Hư. Chỉ biết sau đó lão không đặt chân đến chốn thanh lâu tửu điếm và không đánh bạc nữa. Hàng ngày lão chỉ luẩn quẩn quanh chiếc bình cổ, miệng lầm bầm như kẻ mất hồn.

Lão Hư dặn lại con cháu, nếu lão chết thì cho xác vào chiếc bình mà chôn. Làm sao để thân hình lão lọt qua miệng bình thì lão không biết.

Nhưng lão Hư lại rất sợ chết. Biết rằng chẳng thể trốn được cái sự tự nhiên đó nhưng lão vẫn khiếp hãi. Lão nghĩ ra cách tập chết. Lão cho đóng một cỗ quan tài gỗ tốt để trong phòng ngủ, thỉnh thoảng chui vào nằm thử một đêm cho quen cái cảm giác bị nhét vào một cái hòm kín.

Vậy mà lão lại sống rất dai. Một trăm linh ba tuổi vẫn chưa chết.

Thói quen với cái chết và tuổi già làm lão Hư mê mụ. Đến nỗi lão tưởng mình đã chết rồi và đang sống trong thế giới của những người chết. Ra đường, lão tò mò nhìn chằm chằm những nguời quen, ghé sát tận mặt người ta, hỏi: “Ông đấy à? Xuống đây hồi nào vậy? Đã qua nơi luyện ngục chưa?” - “Mày đấy ư, cháu ? Còn trẻ thế mà đã chết. Mẹ mày trên ấy thế nào? ” - “ Này, khoản nợ trên trần ngày trước bây giờ xuống đây, ta tính sao? ” Trông lão như yêu tinh với khuôn mặt biến dạng vì tuổi tác, bộ da quá nhiều nếp nhăn và cặp mắt trong suốt như không có con ngươi, có thể nhìn sâu vào khoang sọ rỗng.

Nhiều ngưòi ở Miên Giang đã từng trông thấy lão già kỳ dị đó trên đường phố. Lão vật vờ, thiểu não với chiếc áo pađơsuy màu cứt ngựa rách mướp và chiếc mũ phớt thủng giữa đỉnh đầu lộ ra mảng sọ hói đỏ hỏn, trông như một con chim già trụi lông. Lão bới đám rau diếp người ta đổ bên cổng chợ, vừa lựa những cây rau còn có thể  ăn được, vừa lầm bầm chửi:

- Mẹ cái lũ ngu, rau ngon thế mà đổ đi.

Cháu nội lão Hư, một họa sĩ của Xí nghiệp sứ Miên Giang, là bạn của Lân. Nghề họacũng gần gũi với nghế kiến trúc. Họa sĩ  kể cho Lân nghe chuyện kỳ quặc của ông nội mình:

- Tôi rất mê chất men “ Cố tỉnh thủy tinh” của chiếc bình, muốn tìm cách phục chế loại men cổ này. Ông cụ bảo tôi là kẻ có chí, khả dĩ làm rạng rỡ dòng họ Dương. Cụ sẽ lấy vàng cất trong bình ra, cho tôi một ít để mở lò sứ riêng. Miên Giang vốn có nghề làm đồ sứ từ lâu đời. Tôi bực mình bảo:“ Ông cứ để vàng làm lộ phí đến chùa Huyền Không Tự thăm cái lão hòa thượng Dương Châu, Dương Ngựa của ông. Việc lò sứ, mặc xác cháu”. Ông cụ lồng lên chửi tôi là đồ mạt hạng, không đáng là trai họ Dương. 

- “... Ông cụ ngồi suốt ngày bên chiếc bình đến mụ mẫm cả người. Một đêm có trăng, cụ mò đến bên giường lay tôi dậy, thì thào: “Tới giờ linh rồi. Dậy, ông lấy vàng cho mà lập nghiệp.”

“Tôi kéo chăn trùm kín đầu, ngáy thật to. Biết tôi vờ ngủ, ông cụ chửi: “Con mẹ mày, ngu như chó ấy. Vàng giúi vào tay mà không biết nắm lấy thì là thằng mất trí. Mà đã mất trí thì còn nuôi chí cái chó gì nữa.”Tôi sôi máu, định chồm dậy cự lại, nhưng nghĩ ông cụ lẩm cẩm, chấp làm gì. Tôi cũng từng có những ý nghĩ lạ lùng khi ngắm chiếc bình. 

“... Chiếc bình cao gần ba thước tây, đường kính chỗ lớn nhất gần sáu mươi phân. Một khối lạnh lẽo như xác chết một người khổng lồ đứng hoá thạch cô độc giữa gian nhà cổ có tầng mái chồng diêm, giống gác chuông. Mỗi khi nhìn chiếc bình, tôi lại coi đó là một khoảng trống rỗng được xác định bởi lớp vỏ dễ vỡ, thông giao với thế giới trống không vô cùng vô tận ngoài bình, lan rộng đến tận những vì sao xa tít trong vũ trụ. Đáy bình sâu như giếng chẳng thể thay đổi khí trong lòng bình dễ dàng, nghĩa là đã có biết bao nhiêu lớp không khí của những thời đại được chứa trong lòng bình rồi, như đã nén lại thành chất rắn lạnh buốt. Chiếc bình gợi cho người ta những suy tưởng như vậy thì cũng đáng được coi là linh vật lắm. 

- “... Ông tôi đã nhìn thấy vàng trong bình. - Nguời họa sĩ buồn rầu kể tiếp - Vào một đêm có trăng, ông cụ bắc ghế trèo lên cao nhìn vào lòng bình. Trăng lọt qua lỗ ngói vỡ, chiếu xuống miệng bình rọi đến tận đáy. Trên lớp bụi xám và chân hương thắp từ bao đời ném xuống, có hai hình tròn sáng lóe phản chiếu ánh trăng. Nhìn kỹ là hai đĩnh vàng ròng cổ loại một trăm lượng lộ ra trong số nhiều đĩnh vàng nằm dưới đáy bình. Chắc một cụ tổ nào đời trước dư dật, để lại cho con cháu bằng cách ấy. Một ông lão hơn trăm tuổi đã từng đi vào một bức tranh hoang đường thì có thể nhìn thấy nhiều thứ khác mà chúng ta không thể thấy. Tôi ngáp dài khi nghe ông tôi kể thế. ”  

- “... Đêm ấy, ông tôi chồng ba chiếc ghế đẩu và dùng một dụng cụ giống như cái kéo hái quả trên cây cao, gắn lên đầu ngọn sào dài để gắp vàng dưới đáy bình. Buổi chiều ông đã uống thật say sau khi tự chửi mình là ngu dốt vì tự dưng lại bỏ rượu. Cả chuyện đánh bạc nữa; ông sẽ có vàng để tiếp tục uống rượu, đánh bạc. Cho nó sướng. Việc chó gì phải bỏ những thú vui mình thích. Đời ngắn như giấc mộng Dương Châu ấy. Ông đã được nghe người ta giảng cho nghe bài thơ “Khiển hoài” của Đỗ Mục.”

“Ông cụ hăm hở với việc tìm vàng trong bình. Chả lẽ những lời răn giới của hòa thượng Giác Mộng Dương Châu, nếu có, về sự phù du của kiếp người trong cõi tục, chỉ là nước đổ đầu vịt. Chả lẽ ông tôi bỏ những lạc thú trước kia chỉ vì cạn tiền... Ông cụ xếp chồng ba chiếc ghế, run rẩy trèo đến được miệng bình. Chồng ghế bỗng ngất ngư rồi đổ sập. Ông cụ chới với đu bám vào miệng bình làm chiếc bình đổ theo vỡ thành những mảnh lớn. Chiếc đinh đồng và lớp vữa trộn mật lâu ngày đã mục. Một mảnh bình vỡ sắc như kiếm cứa ngang cổ ông cụ. Sáng ra, con cháu biết thì người đã chết, bình đã tan. Những mảnh bình vỡ lẫn trong vũng máu lũ lụt. Trong bình có bộ xương của một con chuột rất lớn. Bộ xương chuột không nguyên vẹn, bị cụt cả bốn chân và đuôi. Suy diễn ra thì con vật khốn khổ tình cờ rơi vào bình, không thoát được, đói quá phải tự ăn bốn chân và cả cái đuôi của mình trước khi chết.”     

-  “... Giá như ông tôi đừng tham vàng đến mê mụ đi như thế. - Người hoạ sĩ ân hận - Không, đáng lẽ tôi cũng phải tham vàng đến phát điên lên, tôi sẽ bật dậy khi nghe nói đến vàng. Tôi sẽ xăng xái phụ giúp ông cụ. Đáng lẽ vàng phải làm tôi tối tăm mắt mũi, cố tranh lấy phần gắp những đĩnh vàng ra, thì đâu đến nỗi. Thật tiếc cái bình. Mà trong ấy có vàng bạc quái gì đâu, hai vật hình tròn sáng lóe hình hai đĩnh vàng ròng chỉ là cặp mắt kính lão của một cụ nào đó đời trước chắc cũng tò mò leo lên miệng bình nhìn xuống, đánh rơi.”

Những mảnh vỡ của chiếc bình được ghép lại bằng sơn ta, bao bọc lấy thi thể của lão Hư. Miệng bình được trám lại kín rồi đem chôn. Lão Hư đã toại nguyện vì được táng trong chiếc bình quý. Còn người cháu họa sĩ thì hy vọng linh hồn ông nội sẽ phiêu giạt đến ngôi chùa cổ trong thế giới hư ảo vẽ trên chiếc bình. Ông cụ sẽ được siêu thoát.

Có ba ông lão lạ mặt từ nơi xa đến đưa tang lão Hư. Người nhà không ai biết họ là ai. Một ông quắc thước người đầy sẹo, có lẽ xưa từng sống kiếp giang hồ ngang dọc. Một ông dáng nho nhã, chắc là một văn nhân. Và một vị hoà thượng râu tóc trắng như cước. Cả ba không nói gì, lặng lẽ theo cỗ quan tài trong có chiếc bình cổ chứa thi hài lão Hư. Người tường tận câu chuyện của lão Hư sẽ nghĩ ra hai ông lão trong số ba ông lão bí ẩn chính là Văn Môn, Đình Lực ngày xưa. Còn vị hòa thượng thì không biết là ai. Chả lẽ lại chính là vị hòa thượng đến từ ngôi cổ tự Huyền Không Tự trong hình vẽ trên chiếc bình cổ?

Người họa sĩ giấu bặt chuyện mai táng khác thường của ông nội. Anh ta biết rằng đối với những đồ sứ cổ quý hiếm, hậu thế coi những mảnh vỡ cũng có giá trị lớn. Vậy mà ba năm sau, một đồng nghiệp gốm sứ của anh đi tu nghiệp ở Trung Quốc về kể rằng, đã nhìn thấy trong nhà một phú thương ở Giang Tô có chiếc đại bình hệt như chiếc bình của nhà lão Hư ngày trước. Chiếc bình cũng đã bị vỡ, các mảnh được ghép lại rất công phu. Điều kỳ lạ là gần đáy bình có một mảnh vỡ nhỏ hình tam giác bị khuyết được gắn lại bằng một miếng sứ mới, lạc sắc men. Chính là mảnh bình người hoạ sĩ giữ lại để nghiên cứu chất men “Cố tỉnh thủy tinh”. Tra cứu các sách địa dư, được biết Giang Tô ngày nay, xưa kia thuộc đất Dương Châu.

Ngôi mộ của lão Hư xây gạch chỉ, bề mặt ốp những viên gốm, không có dấu hiệu bị xâm phạm, suy suyển. Có nên khai quật mộ ông nội lên để xác minh? Họa sĩ nghĩ mãi rồi quyết định cứ để yên. Bình sinh ông cụ là tay phóng đãng. Cho dù có kẻ manh tâm đào mả đem cái bình vỡ về Dương Châu thì cũng là toại cái thú giang hồ của cụ. Hồn cụ sẽ vẫn lẩn khuất trong chiếc bình cũ của mình nơi viễn xứ.  Thì cứ để cụ yên giấc mộng Dương Châu.

Nghĩ thế, nhưng họa sĩ vẫn tự dằn vặt mãi không thôi. Anh đã nghiên cứu chất men “Cố tỉnh thủy tinh” rất công phu và có vẻ như đã có kết quả. Trong số những mẫu thể nghiệm của họa sĩ có chiếc nậm quả bầu nhỏ mang hình một con chuột không chân, không đuôi; miệng nậm là miệng chuột há ra một cách tuyệt vọng và cũng giống một nụ cười ma quái. Chiếc nậm có màu men xám chì sâu thăm thẳm như màu nước giếng cổ nơi vườn hoang. Nhưng dưới lớp men chủ ấy lại có những vết xước màu huyết điệt trông như những sợi lông chuột vấy máu. Màu huyết điệt ấy tán sắc làm lớp men chủ đổi sang màu nâu nhạt. Không hiểu họa sĩ đã cố ý làm biến sắc chất men “Cố tỉnh thủy tinh” hay đó là do “phốt” chế tác.

Không ai biết điều đó, vì họa sĩ quá lao tâm khổ trí cho cái thứ men “trứng ung” ấy nên đã bị chứng lú lẫn, cứ nhớ nhớ quên quên, hỏi gì cũng gật gật đầu ngẫm nghĩ một lúc, rồi lắc.   

 

V. Bánh đậu xanh  Kim Phượng

Toàn văn phòng ty Kiến trúc họp đại hội gì đó, nhưng ông Khoái và Lân không được tham dự. Hai người ở ngoài cuộc. Lân vò nát bản vẽ hỏng thứ ba ném vào sọt rác, ngồi nghĩ vẩn vơ.

Ông Khoái hỏi Lân:

- Sao vẽ hỏng nhiều thế ? Vì không được dự đại hội à?

- Không phải. Tại con vừa vẽ vừa lo, chẳng may họ nghĩ lại, cho con đi dự hội nghị, còn lại mình bố thì buồn chết.

Đôi bạn vong niên trêu chọc nhau cho đỡ buồn. Lân chợt hỏi:

- Từ trước đến giờ bố toàn kể về những dị nhân của Miên Giang. Con đoán chỉ muời phần trăm là thực, nhưng vô hại nên vẫn nghe được. Bây giờ vắng người, bố kể chuyện của bố đi. Chắc không hư cấu cũng rất ly kỳ. 

Ông Khoái im lặng một lúc như không nghe thấy gì, rồi nói:

- Cậu có thể không tin những chuyện tôi đã kể, nhưng chuyện này thì  đừng bác bỏ. Vì như vậy gọi là... sẽ làm tổn thương đến tôi... à không, ý tôi nói là tổn thương đến một người thân của tôi đã chết. Chứ tôi thì thương tích đầy mình, chẳng còn chỗ để tổn thương được nữa.

Ông Khoái chẳng thể tổn thương tinh thần được nữa. Ông không để tâm nhiều đến những gì diễn ra xung quanh. Ông hướng tinh thần về một cõi khác.  Những va đập ở cõi này dù có thô mạnh đến đâu cũng chẳng thể làm ông đau đớn thêm.

Sau này Lân mới biết là không thể đánh đồng chuyện của ông Khoái với chuyện về những nhân vật kỳ dị ở Miên Giang mà ông đã kể.       

*

Chẳng còn cách nào cưỡng được sự xếp đặt của số phận, Lân cũng phải tìm cách để có thể sống lâu dài ở cái thị trấn buồn tẻ này.  Anh kết bạn với Quân, một kỹ sư cơ khí, hơn Lân hai tuổi. Quân là con trai nhà sản xuất bánh đậu xanh Kim Phượng.

Nhà bánh Kim Phượng nổi tiếng lâu đời ở Miên Giang, có ảnh hưởng lớn đến nghề bánh đậu xanh vùng này, chỉ sau nhà Rồng Vàng ở Hải Dương.

Bánh đậu xanh Kim Phượng lừng danh ra tận nước ngoài từ xưa, cũng đã từng được sắc phong của triều đình.

Bà cụ nội của Quân quê ở Đông Hải. Khi biết Lân cũng là người Đông Hải, lại có học thức, mẹ Quân rất quý mến và có ý biệt đãi. Bà bảo Lân:

- Người Đông Hải mình vốn là dân tứ xứ tha phương đến vùng sóng dữ gió to lập nghiệp, nên ai cũng có chí. Dù lang bạt đến nơi nào cũng vẫn giữ được cái tài chí của người Đông Hải. Bác coi cháu như anh em ruột của Quân. Cháu chịu khó ở lại Miên Giang, theo nghề nhà này, tương lai sẽ không đến nỗi nào.

Quân mời Lân đến ăn giỗ bà cụ nội, người đã hướng dẫn dòng họ chồng bà theo nghề bánh đậu xanh. Bà cụ được coi như là tổ nghề bánh đậu xanh của dòng họ Hoàng đất Miên Giang.

Khi những người quan trọng trong gia tộc đang làm thủ tục tế lễ vị nữ chủ khai nghệ, Lân ngồi với Quân trên căn gác nhỏ trông xuống khoảng sân trong và khu xưởng bánh phía sau nhà. Khoảng sân rộng xếp đầy những thùng chậu và những khay gỗ. Những người giúp việc đã nghỉ gần hết. Chỉ còn vài thợ phụ với hai thợ cả làm mẻ bánh cúng.

Bánh cúng gồm muời hai gói mỗi gói mười phong, mỗi phong mười khẩu. Người trưởng họ dâng bánh thắp tuần hương đầu trước bài vị tổ nghề. Huơng tàn, hạ bánh cúng xuống chia cho các mâm chủ hộ để các nhà lấy khước. Hình thức, màu sắc, hương vị và các tiêu chuẩn tinh vi khác nữa của bánh cúng có ý nghĩa quyết định tình trạng kinh doanh cả năm. Vị trưởng họ nếm bánh cúng trước rồi tuyên định. Nếu bánh bị quá lửa, hay sượng; màu rợ hoặc bệch, hoặc xỉn; mùi quá nhẹ hoặc bị hắc; vị nhạt hoặc sắc quá, là điềm bất lợi. Vì thế mẻ bánh cúng phải được săn sóc đặc biệt.

Quân đưa Lân xuống xưởng xem làm bánh cúng. Người ngoài không được xem cái dây chuyền công nghệ bí truyền thiêng liêng, cầu kỳ như cuộc hành lễ chỉ được thể hiện đầy đủ và chính xác vào dịp giỗ tổ nghề. Nhưng mẹ Quân đã có chủ ý chọn Lân cho cô con gái út, phụ giúp nghiệp nhà Kim Phượng, nên Lân cũng cần biết dần về nghề bánh.

*

Lân đứng sững vì cuộc gặp gỡ bất ngờ ở xưởng bánh. Trong góc tối, một cô gái đầm đìa mồ hôi đang xay đỗ bằng cái cối đá rất lớn với cái chàng xay trông lạ mắt, hình đường viền u bò tót.
Đó là cô bé câm đã cứu Lân trên sông Miên và giải thoát cho Lân trong cuộc diễn tập của đội dân phòng. Cô gái tên là Miên, trùng với tên con sông.

Miên đang cố sức kéo đẩy chàng xay để cái thớt cối rất nặng quay đều tạo thành lực quán tính. Chỉ cần chậm đi hay nhỡ nhịp, thớt cối sẽ ỳ ra, phải nhờ một người nữa giúp khởi động lại. Miên như không nhìn thấy gì ngoài cái lòng cối đá chứa đầy mẻ hạt đỗ xanh đã đãi sạch vỏ, màu vàng, gọi là sọ đỗ, đang quay đều đều.
Những bài học về đạo đức ngày xưa nhắc Lân không thể đứng nhìn một người con gái vất vả. Lân vội đến bên Miên, định giúp cô. Nhưng Quân cau mặt, ngăn lại:

- Không được.

Đẩy chàng xay nhanh hoặc chậm hơn bình thường một chút là có thể hỏng mẻ đỗ. Chỉ những người xay lâu năm mới biết điều tiết tốc độ quay của cối. Việc xay đỗ là công đoạn quan trọng đầu tiên. Người ta thường thuê những người mù để xay đỗ.

- Vì sao ? - Lân hỏi với mối ác cảm không giấu giếm.

- Những người mù không sốt ruột, không bị phân tâm. Con bé Miên này bị câm, điếc nên cũng có những đặc tính ấy.

Những người khuyết tật như thế sẽ như cỗ máy, quay đều đều liên miên cái giằng cối ở một xó tối tăm nhất trong cái xưởng tối tăm. Họ lầm lũi và vô cảm, quay chàng xay đều đều, không hấp tấp vội vã, vì chẳng có gì chờ đợi họ. Họ không biết đến ánh sáng và những lạc thú. Cứ quay, quay triền miên. Đến bữa thì ăn những thức không hề nhìn thấy. Đêm đến, để lấy lại sức, họ ngủ một giấc ngủ đen ngòm không mộng Miên, để rồi hôm sau lại miệt mài quay. Họ không còn là con người nữa.

Lân liên tưởng đến những nô lệ chèo thuyền bị xích dưới hầm tàu tối đen ngột ngạt chỉ nghe thấy tiếng roi quất đen đét, tiếng lệnh hô nhịp chèo và chỉ nhìn thấy tấm lưng trần bóng loáng đầy những vết lằn roi trước mặt. Và khi thuyền cháy, đắm, họ phải chịu chung số phận với những mảnh ván thuyền. Nhưng những nô lệ ấy vẫn có khát vọng tự do. Còn những người xay đỗ chỉ mong được xay đỗ mãi để được ăn hai bữa cơm mỗi ngày, được trú mưa nắng dưới một mái nhà kho, ngủ những giấc ngủ đen ngòm.

Bỗng dưng Lân phẫn nộ vì cái công nghệ ấy. Có cái gì như sự bất nhân. Còn tàn nhẫn hơn cả những gánh xiếc chuyên tuyển mộ những người có hình thù dị dạng để mua vui cho khán giả.

Miên như một chi tiết sống của cỗ máy đang nghiền mẻ đỗ. Miên không nhìn thấy Lân và cũng không nhìn thấy gì khác ngoài cái thớt cối đá đang quay cồng cộc, cồng cộc. Lân hiểu vì sao Miên có cánh tay cứng cáp và bộ ngực đầy đặn rắn chắc, và cô đã không có vẻ vất vả khi kéo cái thân hình rã rời nặng sũng nước của Lân lên thuyền.

Đám thợ đang cắm cúi thận trọng bên những khuôn bánh. Nhưng Lân không còn hứng thú quan sát công việc làm bánh cúng nữa.

Ở Miên Giang đã có nhiều nhà dùng cối xay máy chạy điện. -  Quân cho Lân biết khi họ trở lại căn gác.- Như thế không phải là điều tốt. Những nhà bánh lâu đời ở bên Hải Dương cũng đã thấy điều này. Cối điện có tốc độ cao, bột đỗ bị nóng già, chất thơm nguyên bản của tinh bột đỗ bị tổn hại; người có khứu giác tinh tường sẽ thấy mùi khét nhẹ. Tinh hơn nữa có thể nhận ra lẫn trong hương vị bánh tạp khí của dầu chạy máy, chất nhựa thông bọc dây đồng của mô-tơ. Với lại, tốn tiền điện nữa. Vì thế những thợ xay đỗ mù, hay câm điếc vẫn còn có việc làm.

Miên là con nuôi của nhà Quân từ khi được ba tháng tuổi.

Miên bị người ta bỏ rơi bên bờ sông Miên nên được đặt tên thế. Đứa  bé sống lay lắt trong khu nhà có nhiều người luôn bận rộn với công việc. Nó được chăm bẵm thái quá khi những người lớn rỗi việc, muốn chơi với trẻ con như chơi búp bê. Còn khi người ta bận rộn hoặc bực mình thì nó bị bỏ quên, phải chịu đói khát. Có lẽ Miên bị bỏ quên nhiều nên đã mắc tật câm. Rồi Miên lớn lên, thành người làm không công cho nhà hàng Kim Phượng.

Có một chút an ủi đối với cô bé bất hạnh. Miên rất xinh và được một ông bác sĩ bạn quen của nhà bánh Kim Phượng dạy cho môn “chỉ tự”, kiểu chữ ra hiệu bằng các ngón tay dùng cho người câm. Những lợi thế đó đã khiến cô bé đỡ bị thiệt thòi. Nhưng người từng trải thì nhìn cô bé, lắc đầu: “Thế lại chính là điều bất hạnh”.

Ông Khoái còn kể nhiều chuyện khác nữa về nhà bánh Kim Phượng. Có những chuyện cả Quân cũng không biết.

- Sao bác biết kỹ thế ?

Ông Khoái im lặng một cách khó hiểu. Rồi ông nói:

- Cái thị trấn nhỏ bằng bàn tay, hồi đó chỉ có vài trăm hộ dân.

Nghề bánh đậu xanh khởi thủy do một người đàn bà quê ở Đông Hải, miền nước mặn đồng chua mang theo khi về làm dâu Miên Giang. Đó là một người đàn bà tài sắc, đã đem nghề bánh gia truyền của mình vực lại cái cơ nghiệp đang suy tàn của nhà chồng. Thực ra ở Đông Hải, gia đình của bà ta không phải chỉ có mỗi nghề bánh đậu xanh mà còn làm nhiều loại bánh kẹo khác nữa. Nhưng bà nhận ra chất đỗ xanh trồng ở đồng đất Miên Giang mang hương vị đặc sắc có thể dùng để chế ra loại bánh thượng hạng không kém gì bánh đậu xanh Rồng Vàng ở Hải Dương đang nổi danh như cồn. Bà muốn tạo dựng nên một dòng bánh đậu xanh Đông Hải ở Miên Giang. Bánh đậu xanh Miên Giang sẽ không phải là thứ  quà quê chế biến từ một loại nông phẩm thông thường để dân quê có thể bọc lá chuối buộc lạt xách lẵng nhẵng trên tay hàng xâu, mà là thứ vật thực dùng cho cung đình và những tao nhân có khẩu vị tinh tế thưởng thức. Người bình dân sẽ coi đó là thứ bánh cao lâu chỉ dùng trong những dịp long trọng. Bà đã lấy hình ảnh con chim Kim Phượng cao sang nhất trong các loài chim làm thương hiệu.

Khi nhà bánh Kim Phượng nổi danh Bắc kỳ, người con dâu ấy vẫn không ngừng tìm cách khuếch trương thanh thế. Bà đem sản phẩm bánh đậu xanh đi dự đấu xảo Đông Dương. ở kinh thành, bà dùng bánh làm quà kết thân với một vị hoàng thân. Vị hoàng thân đa tình mê hương vị bánh đậu xanh ngọt ngào, đắm đuối dáng vẻ yểu điệu tinh tế của cô chủ hãng, đã xin đức hoàng thượng sắc phong cho bánh đậu xanh nhà bánh Kim Phượng vào hạng đệ nhất mỹ vị. Lại ban cho thương hiệu hình chim Kim Phượng và đặc ân chuyên cung cấp bánh cho hoàng cung. Nhà bánh Kim Phượng đã cho chạm nổi hình chim phượng thếp vàng treo lên mặt tiền ở cửa hàng chính làm biểu trưng.

Người đàn bà ấy là bà cụ nội của Quân.

Các đời sau này, những người chủ trì nhà bánh Kim Phượng đều là phụ nữ. Có thể do sự sắp đặt bí ẩn nào đó rất tự nhiên mà chế độ mẫu hệ đã được tái thiết và duy trì ở đây cho đến tận ngày nay.

Mẹ Quân nói với Lân:

- Nghề bánh có lúc tưởng suy tàn. Người ta làm các loại bánh kẹo “cải tiến” bằng ngô, khoai, sắn thô thiển. Bánh đậu xanh mà có khi làm bằng bột đậu tương, đỗ đen. Nhưng nhà Kim Phượng quyết không để nghề gia truyền bị mai một. Bao nhiêu phen bĩ cực khốn khó, phải lấy cát ẩm giả nguyên liệu để truyền dạy cho con cháu, duy trì nghiệp nhà. Đến bây giờ cũng gọi là đã qua cơn. Nếu làm con cái nhà này, cháu sẽ được chân truyền nghề bánh.

Bà mẹ của Quân muốn tác thành cho Lân với Hương, cô con gái út của bà. Có thể do Lân là người cùng quê ngoại với bà, nơi có nhiều người tài trí như bà nói, hay là bà đã nhìn thấy Lân có đủ tư chất để thụ giáo môn bánh đậu xanh.

Lân vâng, dạ lễ phép với bà mà không tỏ ý gì. Tính hài hước đã khiến Lân hình dung ra mình trong địa vị ông chủ hãng bánh đậu xanh, khắp người sực mùi va-ni, khuôn mặt bóng loáng dầu dừa, mỡ lợn với nụ cười cầu tài thường nhật mang hương vị đường, đỗ. Và đêm đêm, Lân phệ bụng trong bộ quần áo lụa bóng cùng Hương ngồi tính toán tiền nong, đỗ, mỡ... nghe mẹ vợ truyền giảng cho những thủ đoạn giảm giá, ghìm hàng, tung hàng, phong tỏa nguyên vật liệu... để cạnh tranh với các hãng khác.

Hương là một cô gái hợm hĩnh và nông nổi. Cô ta không phải là người có thể giúp Lân qua được những cơn thất vọng. Hương không thể là người khiến Lân có thể cố sức bơi trong làn nước giá lạnh, để không chìm nghỉm xuống đáy sông.

Nhưng Lân vẫn cứ đến nhà Quân đều đều. Vì tình thân với Quân, vì một mục đích rất đáng xấu hổ như sau này Lân nghĩ lại: ở đấy có những bữa cơm như bữa tiệc và những chiếc bánh đậu xanh thơm phức. Lân đang là một thanh niên, những suất cơm ít ỏi, thiếu dinh dưỡng của nhà ăn tập thể đã làm Lân luôn bị những giấc mơ ăn uống giày vò đêm đêm. Mỗi lần đến nhà Kim Phượng, Lân để lại suất cơm nhà ăn tập thể cho ông Khoái. Khi về, Lân còn thủ cho ông phong bánh đậu xanh.

Ông Khoái nhìn Lân với ánh mắt nửa buồn rầu, nửa giễu cợt:

- Có món vịt hầm ngó sen, tra rau rút chứ ?

Lân ngượng nghịu gật đầu.

- Thế có món chả chìa không ? 

- Bố tài thật. Nhưng bố đừng hỏi nữa, con xấu hổ vì thói ăn chực lắm.

- Có tôi xấu hổ thì có. Chỉ tại cái tuổi già.

Và ông Khoái thổi sáo miệng bài hát quen thuộc:

Ôi tuổi già khốn khổ ơi, tuổi già
Tình nồng cùng lạc thú đã rời xa
Ta bằng lòng giày rách với túi rỗng
Chỉ cần trả lại tuổi trẻ cho ta...

Rồi ông nói với vẻ mặt bí ẩn:

- Giá tôi còn trẻ thì trưa nay tôi đã cùng ngồi một mâm với cậu rồi.

- Sao lại phải trẻ? Chả lẽ nhà Kim Phượng chuyên đãi cơm những người trai trẻ như bố ngày xưa, hay như con bây giờ ? - Lân hỏi. 

Ông Khoái im lặng. Lân nói thêm:

- Trong truyện kiếm hiệp, có phái hắc đạo chuyên dụ dỗ các đồng nam rồi hấp thu tinh lực của họ để luyện một môn võ công gì đó.

- Cậu nhồi nhét cho lắm những sách nhảm nhí vào đầu rồi nghĩ bậy nghĩ bạ. - Ông Khoái có vẻ phật ý vì câu nói của Lân.

*

(còn nữa)

 

Ý kiến của bạn về bài viết này:
Tên người gửi
Email
Tiêu đề
Nội dung
 
Chú ý: Ý kiến của bạn phải được Ban Quản Trị duyệt mới dược hiển thị

Một số ý kiến đóng góp về bài viết này:

 

 
TÌM KIẾM
Sắp xếp theo tên tác giả
BÀI ĐỌC NHIỀU

Nguyễn Bình Phương

 

Đặng Thân

 

Dương Kiều Minh

 

Đoàn Minh Hải

 

Nguyệt Phạm

 

Đỗ Kh.

 

Lê Vĩnh Tài

 

Hoàng Ngọc-Tuấn

 

M.Đ.Triều Tâm Ảnh

 

Trịnh Cung

 

eL.

 

Khánh Phương

 

Lê Ngân Hằng

 

Nguyễn Việt Hà

 

Nhã Thuyên

 

Nguyễn Quang Thiều

 

Lam Hạnh

 

Y Ban

 

Đỗ Phấn

Số lượt người truy cập:
Trang chủ | Kết nối | Mai Văn Phấn | Poetry by MVP | Liên hệ  

Bản quyền trang Web thuộc về MAIVANPHAN.COM @2007
Email: maivanphan@gmail.com