Trang chủ Kết nối Mai Văn Phấn Poetry by MVP Liên hệ  
Kết nối
Tin văn
Trả lời phỏng vấn
Thơ
Văn
Bài viết khác
Mai Văn Phấn
Sáng tác mới
Thơ
Trả lời phỏng vấn
Dư luận
Tiểu sử
Poetry by Mai Van Phan
Poetry
Interview
MaiVanPhan's profile
Translator's profile
Các tập thơ đã xuất bản
Vách nước - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng
Giọt nắng - Thơ Mai Văn Phấn - Hội văn nghệ Hải Phòng 1992
Nghi lễ nhận tên - Thơ Mai Văn Phấn
Cầu nguyện ban mai - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng 1997
Gọi xanh - Thơ Mai Văn Phấn
Giọt nắng - Thơ Mai Văn Phấn - Nhà xuất bản Hải Phòng
Các tập thơ trên Website

QUAY THEO MÁI NHÀ
(công bố: 11.2007)

anhanhemem
(công bố: 10.2007)

 


KHẢI HUYỀN MUỘN XVII

Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2005

(tiếp)

2

Chiều xuống trên sông của xứ Đàng Ngoài bao giờ cũng bàng bạc một nỗi buồn vô tận. Mới cách kinh thành chưa đầy trăm dặm mà những làng mạc hai ven bờ đã trông thật khác. Lúc này tuyệt chưa thể nghe được tiếng chuông nhà thờ. Liệu sáu mươi năm nữa hay một trăm năm nữa, những tiếng chuông trầm buồn ngân nga ấy sẽ có thành một phần hồn của làng quê Việt. Rhodes nằm dài ở đầu mũi thuyền nhỏ có lèo tèo chừng dăm tay chèo, thật khác xa cái cảnh hùng tráng của những ngày đầu tiên Rhodes tới đây. Vậy mà đã tròn hai năm. Thời tiết tàn đông của phía Bắc nước Việt thất thường. Lẩn khuất giữa những đám mây ủ ê thỉnh thoảng có một vệt rét đậm. Tâm trạng của toán người bị đầy biệt xứ là xót xa nặng nề. Viên cai đội giám thị kiêm luôn làm thuyền trưởng, tò mò với cái ống nhòm, chốc chốc lại đưa lên nghiêng ngó nhìn. Rhodes thở dài, nheo mắt nhìn ngược tít tắp sông Hồng. Phía xa xa khuất nẻo sương khói là kinh thành Thăng Long. Đuờng phố Kẻ Chợ sầm uất rộng, lòng phố lổn nhổn lát đá hộc đủ cho mười đến mười hai thớt ngựa chạy song song. Nhưng chẳng dễ gì băng qua được, vì những gồng những gánh đa phần là của người bán trầu cau. Những thiếu nữ trinh trắng những thiếu phụ có chồng tất thẩy răng đều nhuộm một mầu nhưng nhức đen nồng nàn dễ chịu mùi trầu. Dân Đàng Ngoài ví nó giống như hạt na. Và những hạt na ấy hơn một lần cắn sợi chỉ thừa khi đang khâu dở vết rách vai trên chiếc áo chùng thâm của Rhodes vào cái hôm đám cai binh sặc sụa mùi rượu cuồng loạn đập ảnh Chúa Cứu thế gắn ở bàn thờ gỗ xoan. Rhodes nằm sụp xuống che ảnh Chúa, mặc cho những tay thước hung dữ vụt xuống lưng và vai của mình. Vệt nắng ngoài hè nhà nguyện đã nhạt hẳn và cặp mắt sẫm của cô bé long lanh đậm nước.

“ Về đi con”.

“ Thưa, cho con xem lại cái vết thương họ đã đánh thầy”

“ Thôi, không có gì đâu. Cha cám ơn con rất nhiều”.

Rhodes cố tránh cái nhìn thiết tha của thiếu nữ mới lớn. Đấy có phải là một trong vài lý do để Rhodes da diết nhớ hơn một năm rưỡi ông ở Thăng Long. Hôm nay là ngày thứ ba sau cái buổi chúa Trịnh Tráng công khai tuyên cáo trục xuất vĩnh viễn hai giáo sĩ dòng Tên ra khỏi địa phận Đàng Ngoài. Cả một biển người cuồng nộ và may mắn thay cho hai thừa sai, dân xứ này không có tục ném đá. Đám nho sinh nguyền rủa cay nghiệt, đám thị dân chửi bới tục tĩu. Alexandre de Rhodes cúi đầu. Lạy Chúa, Người không cấm chúng con tử tiết vì đạo mà chỉ cấm chúng con không được trở nên liều lĩnh. Nhưng không phải chỉ toàn đau đớn như vậy. Phía khuất đường lớn góc rẽ vào phủ chúa, đám giáo dân đã được rửa tội đứng dúm dó âm thầm nức nở khóc. Họ hãi sợ nhưng quyết liệt liêu xiêu tựa vào nhau không chịu tan. Và Rhodes cũng đã trông thấy cô bé ấy, cô bé có tên thánh như hương hoa, Flora Huệ. Cô bé run rẩy đứng cạnh hai thầy giảng trẻ, Phanxicô Đức và Inhaxiô Nhuận. Đây là những hạt giống kiên trinh mà Rhodes đã vất vả gieo trên mảnh đất gian nan nhiều xót thương này. Là của lễ đầu tiên của tân giáo đoàn dâng lên đức Giê Su Kitô, của lễ bằng máu mình hiến cho giáo hội Đàng Ngoài. Ân sủng của Chúa sẽ chói rọi khắp khắp. Ngay từ hôm rời áo Môn lần theo bờ biển Hoa Nam để tới kinh thành Kẻ Chợ, Rhodes đã sâu sắc tin như vậy. Kể cả khi cơn bão đầu mùa khủng khiếp năm Đinh Mão đánh dạt tầu vào Cửa Bạng thì đấy cũng là ý Chúa. Thừa sai Rhodes và Thừa sai Marques đã được chúa Trịnh đang ngự chiến ở đó chấp thuận cho yết kiến. Hai giáo sĩ khấu đầu kính cẩn dâng lên chúa thượng hai viên ngọc quý để lên bìa cuốn Thông hiến đồ thuyết do cha Lợi mã Đậu soạn, in tại Bắc kinh năm 1607. Nhưng chúa thượng thích nhất là những đồng hồ chạy cát và chạy cót, dân xứ này quen gọi là sa lậutự minh chung. Chúa thượng mỉm cười.

“ Ta muốn các thầy ở lại với ta một hai năm, ta muốn bàn bạc vài điều.”

Rhodes âm thầm cảm tạ ông thánh thân phụ của Chúa Giê Su, vì đây là ngày lễ hiển linh kính danh ông. Rhodes sẽ lấy tên ông đặt cho Cửa Bạng là cảng thánh Giu se. Rhodes biết chúa Trịnh Tráng muốn điều gì. Mối lo dằng dai ám ảnh về những khẩu trọng pháo của xứ Đàng Trong, ưu thế quân sự duy nhất mà quân đội phía Bắc vắng thiếu. Chỉ có thương thuyền của người Bồ đào Nha mới chuyên chở được nó. Nhưng gì thì gì, hành trình truyền giáo mang sứ mệnh của Chúa đến xứ Đàng Ngoài bước đầu đã thành công. Thừa sai Rhodes và những người đồng hành được phép lên thuyền ngược sông Mã qua kênh đào Mã Viện để tới sông Đáy rồi ra sông Hồng về thẳng kinh đô Kẻ Chợ. Đấy là bốn giờ chiều hôm trước của ngày lễ Đức trinh nữ và Nữ vương Thiên quốc đi thăm viếng mang phúc lành tới nhà Thánh nữ Isave. Đất Đàng Ngoài vài ngày nữa rồi vài trăm năm nữa sẽ chứng kiến sự hiển hiện của một giáo sĩ. Họ sẽ lấy tên ông khắc vào bia rồi sẽ vất đi. Họ sẽ lấy tên ông vinh danh đặt thành tên đường và cũng sẽ xoá đi nhưng rồi lưỡng lự lại giữ. Một tôn giáo mới hoàn toàn từ bên ngoài, đã manh nha, sẽ trỗi lên trong tâm linh Việt. Tại sao một người hoặc một dân tộc lại cần có đức tin. Nó là hệ luỵ từ tham lam muốn bành trướng thần quyền của một giáo đoàn hay là cái nhu cầu đương nhiên bức xúc từ trong nội tại. Nền trời trong xanh nhờ những cơn mưa rào ở giữa mùa hè có nhiều nắng. Cha Christophoro Borri đã hết lời ngợi ca con người và thiên nhiên ở xứ sở này. Một miền đất mà chắc chắn Chúa đã chọn để gieo giống.

Nguyên chú hình như của linh mục Đức.

Khi ăng-Ghen nói Nếu con bò mà cũng có đức tin, thì Thượng Đế của nó đương nhiên phải có đầu bò. Ăng-Ghen đã hiểu sâu sắc tôn giáo. Trong muôn loài, khi sắp tới kỷ nguyên Ki-Tô thì con người là một dạng bị tha hoá nặng nhất. (Tội tổ tông chỉ là một giới luật, một răn dậy của Đức Chúa Cha). Con người, chính là loại sinh linh cần phải cứu gấp gáp nhất. Và giáng thế, Chúa Giê-Su đã chọn hình hài con người là lẽ vậy. Cũng theo thuyết lý đó, Người đã chọn ít-xa-ra-en là điểm tới và dân Do Thái là dân riêng. Đó chính là nơi mà Người đầu tiên phải giải thoát. Hãy nhìn, quá nhiều những đô thị ở vùng đất này đã trở nên giả hình và truỵ lạc. Và giáng sinh tại Bethlehem hoàn toàn nằm trong chủ định của Chúa. Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm bảo Người đầu tiên vào địa ngục sẽ là ta. Công án đó thật chính đáng và minh bạch. Thêm nữa, Chúa Giê-Su đã chọn mảnh đất lẫn lộn đen trắng ấy để gieo giống Phúc Âm đầu tiên bởi vì nó cũng là nơi bảo tồn và nuôi dưỡng mạnh mẽ đức tin nhất thần luận.

Thế nhưng ngay lúc này đây, mặt đất Việt đang nghèn nghẹn một mầu xàm xạm thuốc súng, rải rác nhiều xác chết bị lấp bùn nhão sơ sài vội vã, những người chưa bao giờ biết phép rửa và vĩnh viễn không được chịu phép xức dầu. Cuộc nội chiến đã lên đến đỉnh điểm kinh hoàng giữa những người cùng mầu da cùng máu huyết mà những khi bình thường tất thẩy bọn họ đều hoà nhã hiền lành hiếu khách. Gần ba trăm năm sau chữ quốc ngữ đã lên ngôi trên toàn cõi Việt và lịch mặt trời phương Tây cũng đã thông dụng theo, thì ngày hôm nay được định là ngày mồng một tháng bẩy năm 1627. Trước ngày này chừng một năm rưỡi, xứ Đàng Ngoài duy nhất có linh mục người ý Julien Baldinotti tới truyền giáo. Vất vả suốt hai tháng, ông ta chỉ làm phép rửa cho được bốn đứa trẻ sắp chết. Trong lịch sử trung đại rồi cận đại cả đến hiện đại của nước Việt, xứ Đàng Ngoài luôn đến với phương Tây chậm hơn xứ Đàng Trong. Alexandre de Rhodes đã biết vậy. Ông biết một cách sâu sắc giống như cái biết của một thương gia có kinh nghiệm thăng trầm biết cái ma lực khủng khiếp của bạc vàng. Chính tay ông đang cầm bức thư của cha Baldinotti khẩn thiết kêu nài các bề trên xin gửi thừa sai tới Đàng Ngoài. Thế nhưng, ở Ma Cao giới thương gia không tha thiết lắm việc buôn bán với xứ ấy. Một phần vì người Bồ Đào Nha rất nghi ngại thái độ của nhà Vương vốn bị một quan cận thần ghét người Bồ thao túng. Phần nữa, những thương gia đã tới Đàng Ngoài lần trước đã lỗ lã nhiều, đến độ không ai muốn sang đó thêm lần nữa. Mà không có tiền thì… Cám cảnh thế sao, chả trách gã phản thệ Lu Thơ người Đức mỉa mai Đức Thánh cha, khi đồng tiền rơi xuống thì linh hồn bay lên. Đây là lần đầu tiên Rhodes tới Đàng Ngoài. Sóng biển xanh mặn lắc thuyền nhè nhẹ, không cần phải dướn người hay dùng ống nhòmcũng có thể nhìn thấy những rặng cây xanh xa xa trên một đảo nhỏ trông dịu dàng nhiều nữ tính. Trong tâm thế chung của các cư dân duyên hải vùng Đông nam á những Thánh nữ luôn có vị trí thật cao. Hôm xuống thuyền từ áo Môn, Rhodes đã để thêm nhiều mẫu ảnh Đức Bà vào cái rương mây nhỏ, quà tặng riêng của mệnh phụ Gio Anna cho Rhodes hồi ông còn đang ở Hội An. Rhodes đã vô thức để Hội An thật đậm vào sâu ký ức. Cái thương cảng nhỏ nhắn cạnh sông Thu Bồn tuyệt vời đẹp, có nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo giầu có người Nhật Bản chạy nạn từ các cuộc bách hại sang đây chăm chỉ mà thành thương gia. Nhờ họ mà Rhodes đã biết quý phu nhân Gio Anna gốc gác người Việt Đàng Ngoài, sau cuộc di dân vĩ đại từ thế kỷ mười sáu theo chiều Bắc-Nam định mệnh lịch sử, bà đã là goá phụ của một nhất đẳng đại thần Đàng Trong. Bà có cái mũi cao gần giống người Âu, phảng phất hình Đức Mẹ theo kiểu vẽ của danh hoạ Raphael. Và cặp môi. Lạy Đức Mẹ nhân từ, người luôn khoan dung với tất cả lỗi lầm của chúng con. Lúc đó Rhodes chưa thể đọc được lời của Đức Thánh cha Gio an Phao lồ đệ nhị tôn vinh Đức Mẹ “ Đức trinh nữ Maria Thánh Mẫu chí thánh của Thiên Chúa, là tuyệt tác của sứ mệnh ngôi Con và Thánh thần trong thời viên mãn. Lần đầu tiên trong chương trình cứu độ và nhờ chuẩn bị trước, Chúa Cha đã tìm được nơi Đức Maria chỗ ở để Chúa Con và Chúa Thánh thần cư ngụ giữa loài người”. Giọng có tuổi của Đức Thánh cha trước micrô được khuyếch đại qua ămply nghe rõ từng nhịp run run. Lịch sử của Giáo hội không chép không ghi và không cho phép một Giáo hoàng về hưu. Và Đức Thánh cha người sẽ vẫn nói. Và thời đại của những con chíp điện tử liệu có làm người ta bớt hoang mang khi nghe thuyết giảng Phúc Âm. Cả biển người quần là áo lượt sang trọng vừa quỳ vừa lẩm nhẩm khấn thầm. Còn bây giờ, linh mục Rhodes cũng quỳ và đọc thật chậm mười lượt kinh Ave Maria bằng tiếng Việt. Đến lượt đọc cuối, Rhodes vớ cuốn vở giấy nhám ép bìa vỏ cây sậy ngẫu nhiên mua ở một buổi chợ phiên miền quê Avignon, lưỡng lự lấy bút lông ngỗng chấm mực định sửa câu Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Cái thói quen của một học giả trẻ. Không chắc. Có phải là Rhodes thấy câu đó là ngô nghê chưa thoát ý. Không biết, chữa là chữa thôi. Cũng có thể hôm ấy là một ngày rất buồn. Ngày hôm ấy Alexandre de Rhodes nắn nót ghi trong nhật ký là ngày 13/12/1625. Xứ đạo tiên khởi Thanh Chiêm đang có bão muộn, dông kéo mây xám bơ vơ mênh mông chạy. Cái tin đắm thuyền được trực tiếp viên quan tuần kiểm duyên hải, người đã hơn một lần nhận hối lộ thẳng từ tay của Rhodes, hộc tốc phi ngựa đến báo. Nhìn vẻ mặt đột ngột ngơ ngác của ông ta, kiểu nói ấp úng của ông ta thì Rhodes biết cái chết của cha Pina có nhiều khuất khúc. Sau cái lần chữa bệnh không khỏi cho Sãi Vương Nguyễn phúc Nguyên, linh mục Francesco de Pina bị mất uy tín khủng khiếp. Đều đặn ngày ba lần Chúa Sãi ngâm người trong bồn gỗ táu chứa đầy nước sền sệt ấm nấu từ lá cây Hồng Ma ( tên một loại lá dại rất hiếm mà hơn ba trăm bẩy mươi năm sau nhà văn Bảo Ninh đã tìm thấy nó ở cánh rừng hoang vu đại ngàn Tây Nguyên khi ông còn là một gã binh nhất cồn cào đói lang thang đi đào sắn trộm) và linh mục Francesco vừa đọc kinh vừa lấy thanh gỗ Kỳ nam có trầm vụt từng nhát nặng lên lưng của Chúa để trừ tà khí. Những cái nhọt của Chúa Sãi càng ngày mưng mủ càng nặng. May nhờ bài thuốc Bắc của thầy lang Tầu gốc Minh hương họ Chu, mình rồng mới đỡ. Nếu không có sự can thiệp dữ dội của hoàng tử Nguyễn phúc Kỳ, thì đám đại thần có móng tay lá lan đã nuốt chửng linh mục Pina. Bọn quý tộc quen sạch sẽ ấy bị cái mùi khắm lặm bốc ra từ đám nhọt của Chúa ấy hành hạ. Khi phải đứng sát đọc tấu chương trình Chúa, bọn chúng luôn bỏm bẻm nhai trầu cay mà vẫn âm thầm oẹ khan. Cha Pina mắt sắc sảo đại bàng vừa cao vừa lòng khòng gầy, là giáo sĩ duy nhất giỏi tiếng Việt của nhóm thừa sai người ngoại quốc lổn nhổn Bồ, Hoà lan, Pháp đầu tiên tới Đàng Trong. Cha cũng là người đầu tiên gây thù chuốc oán với đám quan và lại bản địa có tín ngưỡng mông muội man rợ. Hồi còn là chủng sinh tập viện dòng Tên ở Rô ma, Rhodes có đọc cuốn du ký Viage del Muldo bản in năm 1614 của linh mục người Tây ban Nha Ordonez de Cavallos kể chuyện rằng ông đã truyền được đạo vào kinh đô nước Đàng Trong. Vị vua khai quốc là Nguyễn Hoàng thích lắm. Ngày 17/9/1591 chúa Nguyễn Hoàng chính thức chịu phép rửa lấy tên thánh là Grégerio. Đấy là tưởng tượng hay là khát khao. Du ký là thể tài văn chương và văn chương thì được phép bịa đặt được phép thăng hoa. Những ân sủng từ Phúc Âm được người Việt tiếp nhận dễ dàng đến thế chăng. Họ đã có rất lâu tôn giáo của họ và còn lâu hơn nữa là Đức Tin rất riêng của chính họ. Không phải đơn giản hay nông nổi mà họ thờ tà thần. Chính ở điểm này cha Pina đã bộc lộ quá nhiều sai lầm. Giáo sĩ Pina thường nghiến răng lúc ngủ say và khi nói cặp môi mở hẹp tạo vẻ nghiệt ngã. Những tín đồ bản địa đầu tiên đến chịu phép rửa, bắt buộc phải theo lời cha vứt đi những bát cắm hương ám chặt khói vốn đã vài đời có thói quen thờ tiên tổ. Cha Pina kiên định và uyên bác. Sống dài ở ven biển, hay phải đi lại bằng thuyền nhưng ông có cố tật sợ nước. Mùa Phục sinh đầu tiên của Rhodes ở Hội An bão đến sớm. Cha Pina và Rhodes đi trên một chiếc thuyền nhỏ tới giáo xứ mới mở Nước Mặn. Sóng cuồn cuộn đen và mây cuồn cuộn xám. Cha Pina run rẩy nắm chặt cây thánh giá bạc xỉn mồ hôi lẩm nhẩm đọc đi đọc lại Credo, sắc mặt tái mét. Một lúc sau cha nôn, và phía dưới đũng quần đẫm đầy nước đái. Cái gì đã làm cho một con người nhỏ bé luôn dúm dó vì sợ trở nên một thừa sai lồng lộng quật cường. Lòng tin yêu Chúa vô bờ hay sự khải ngộ sâu xa của sứ mệnh đã được mặc định từ Thiên chức. Và lạy Chúa, con cũng đang hỏi con. Con chưa phải chưa hề là một sứ đồ, nhưng nếu không nghĩ thế thì làm sao con có thể vượt qua được vô vàn hiểm ác của quỉ ma. Hoang mang là đương nhiên. Cô bé Flora Huệ khẽ nghẹn ngào, chỉ những khi con nhìn thấy cha thì con mới hết hoang mang. Thôi đừng nghĩ quẩn nữa, đã thật là tình yêu thì tất thẩy đều trong trắng. Sáng danh Chúa, liệu có phải ý của Người bao giờ cũng tăm tối. Những trí thức nhiều chữ theo Nho theo Phật ở xứ này khi chân thành tranh luận Thần học thường bảo, thắng được mình rồi mới thắng được ma quỉ. Cha Pina hơn Rhodes chừng tám tuổi, chính danh là sư huynh và sâu xa trong thâm tâm Rhodes luôn coi ông là thầy linh hướng. Gần như toàn bộ những nghiên cứu về việc La tinh hoá tiếng Việt mà Rhodes đang làm đều dựa trên đề cương khởi thảo của Francesco de Pina “Nhập môn tiếng Việt Đàng Trong”. Tiếng sóng vỗ lóc bóc đều đều vào mạn thuyền, Rhodes ngắm kỹ mẫu ảnh Đức Mẹ vô nhiễm vẽ trên kính, khuôn mặt hơi dài theo kiểu các bích hoạ của trường phái tranh thánh I Pha Nho. Bà Gio Anna mỗi buổi chiều xuống có thói quen đứng hàng giờ cầu nguyện dưới ảnh Đức Mẹ. Cặp mắt dài đen bơ vơ buồn. Vẫn cặp mắt ấy khi nhìn Rhodes, bao giờ cũng long lanh nửa như có nước nửa như có nắng. Hồi còn là khuê nữ, tiểu thư duy nhất của quan phó Chưởng trấn, bà đã vô cùng sùng kính Quan Âm Bồ tát. Sau khi xuất giá để trở thành đệ nhất phu nhân của Đại Chiêm hải khẩu, thì bà lập hẳn một am lớn sát phía hậu khuôn viên để thờ đức Phật Bà. Khói trầm nghi ngút bảng lảng quanh tượng Quan Thế Âm bằng gỗ trắc vàng rượi. Cái am đó hồi Rhodes mới đến Hội An chỉ còn thấy nền hoang. Non ba trăm năm sau cũng trên cái nền đó người ta đã dựng lên một nhà thờ, mà thánh quan thầy là Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội, có kiến trúc vào loại đẹp nhất miền Trung nước Việt. Chỉ có lòng tin tôn giáo mới hiến tặng vô tư cho các nền văn hoá những kiệt tác vô giá. Cho dù chúng không hẳn là sự dịu dàng giao thoa mà chỉ là sự hung hãn chà dẫm lên nhau. Tròn ngày giỗ hết của chồng, bà Gio Anna cho xây đối diện cái nền am cũ một nhà nguyện có tượng Chúa Giê Su khổ nạn khang trang với vì kèo bằng gỗ lim. Hình như một lần, cha Pina đã mời Sãi vương Nguyễn phúc Nguyên tới đó để chữa bệnh. Còn Rhodes, cũng đã hơn một lần Rhodes được mời tới cái căn nhà sau ngôi nhà nguyện đó. Qua một bức tường thấp là một gian dài thăm thẳm lờ mờ có nhiều ánh nến. Cô bé người hầu dẫn Rhodes vượt qua một khu vườn rộng. Khu vườn âm u với những cây mít to, cành và lá rất dầy. Cỏ dại mọc hoang vươn dài chườm gần hết lối mòn vốn đã rất nhỏ. Hai người dừng bước trước căn nhà gianh sạch sẽ giữa vườn vừa buồn vừa tối. Cô bé người hầu không gõ không gọi, khe khẽ đẩy cửa. Rhodes tự nhiên lùi một bước. Lẫn lộn nhiều mùi trầu cay mùi trầm mùi phấn son. Cái mùi đặc biệt chỉ riêng có trong khuê phòng của các thiếu phụ quý tộc. Cái mùi này cũng rất khác, rồi đây khi ở Thăng Long, Rhodes đã ngửi thấy trong buồng của cô bé Flora Huệ. Tất nhiên hôm đó Rhoes không ở đấy một mình. Bố cô bé đứng ngay sau. Ông ta làm chức quan mậu tài, chịu trách nhiệm thu thuế cả vùng Đông Bắc, nhưng không hiểu sao chỉ toàn thấy ông ta mặc võ phục. Ông ta không chịu rửa tội nhưng cho phép vợ và con tin sùng theo Đạo. Ngoài bà chính thất, ông ta còn hai cô thiếp nữa. Cái tục đa thê man rợ đã ngấm sâu trong các nhà quyền quý ở cái xứ này. Bà vợ chính lem nhem nước mắt loay hoay quỳ xuống hôn gấu áo Rhodes. Bà mới rửa tội tháng trước và được Rhodes đặt tên thánh là Agata. Bà nói, đứa con gái duy nhất đột ngột đổ bệnh, nó khóc lóc kêu nài chỉ muốn duy nhất mình cha đến đọc kinh cùng nó cho bệnh đỡ. Hơn một lần, Rhodes đã thấy những giọt nước mắt nồng nhiệt nóng và trong veo ấy. Rhodes đưa tay làm phép lành, tự nhiên thấy tay mình run run. Cô tiểu thư nửa nằm nửa ngồi tựa lưng vào chồng gối gấm, mắt long lanh rừng rực nhìn cha. Cái nhìn giống như một lần cô bé đã nhìn ở vào một buổi tối giữa hè khi suốt một tiếng rưỡi thiếu nữ Flora Huệ không đổi tư thế cầm cao cây nến đại rọi ánh sáng bập bùng xuống những trang bản thảo Phép giảng tám ngày. Rhodes làm dấu thánh, vòng tay rút chuỗi hạt đeo ngang ngay dây lưng chầm chậm vừa lần vừa đọc kinh. Tại sao, tại sao Chúa lại chọn chính con rồi đặt vào chỗ luẩn quẩn phiền muộn như thế này. Rhodes cố muốn quên nỗi ám ảnh từ cái giọng hổn hển đòi xin giải tội của bà goá phụ trẻ Gio Anna.

“Lạy cha, xin người tha tội cho con, đêm nào con cũng nằm mơ thấy người”

“Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, Amen.”

“Lạy cha, con nhớ người.”

Rhodes khẽ liếc qua vai, cô bé người hầu đã đi từ bao giờ. Linh mục Rhodes thở dài, ông sâu xa biết những tín nữ mà dân Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong, gọi một chữ rất hay là đàn bà có vai trò quan trọng như thế nào trong hành trình truyền giáo của ông. Họ đã che chở cho ông và các bạn bè của ông trong những lúc khốn khó cực nhọc nhất.

Nguyên chú hình như của linh mục Đức.

Tôi nhớ một lần làm bí tích xưng tội cho một giáo dân. Cái giáo xứ hiu hắt mà tôi vừa làm lễ mở tay mênh mông thưa thớt người, trong bán kính hơn hai chục cây số duy nhất mình tôi là cha xứ. Chị ta người gốc Bắc, khoảng hơn ba mươi tuổi đã có chồng chừng được bốn năm. Khuôn mặt cũng như bàn tay trắng xanh đang xoắn chặt run run nói rằng đây là một người trí thức. Chị ta thì thào là đêm hôm qua chị ta vừa phạm một tội trọng. Chị ta lấy chồng không hề yêu và cuộc sống hôn nhân từ lâu đã là một địa ngục. Người chồng phải lao động nặng nên uống rượu rất nhiều, khi say anh ta trở nên hung hãn thô bạo. Tôi vừa an ủi vừa giải thích. Giải thích về một điều mình không hiểu kỹ thì bao giờ cũng phải kinh viện. Sự gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phép phân ly. Chị ta im lặng rồi lại nức lên.
" Con nhiều lúc chỉ muốn giết chết anh ta"
Tôi biết ở ý hay Tây ban Nha, những quốc gia có truyền thống Ki Tô giáo lâu đời và có đa số công dân theo Công giáo. Khi quốc hội thông qua luật cho phép ly dị thì hàng giáo phẩm lên tiếng phản ứng quyết liệt nhưng cái luật đó vẫn được thông qua. Thậm chí, khi làm Referendum, đa số người dân vẫn ủng hộ luật này. Liệu đấy có phải là tách bạch chuyện đạo và chuyện đời. Tôi trầm ngâm khuyên.
" Nếu con chưa kịp nghĩ đến lòng nhân từ của Chúa, thì hãy nghĩ đến các con của con".
" Con chưa có con"
Hơn một tháng sau tôi đọc báo biết tin anh chồng bị giết. Tòng phạm hình như có cả người nhân tình. Tôi sấp mình xuống bàn nguyện và một thời gian dài bị ám ảnh khuôn mặt của chị ta. Tôi mệt mỏi tĩnh tâm. Tôi chẳng hiểu gì về con người cả, nhất là những người đấy lại là phụ nữ.

Nắng gay gắt giữa hè được gió sông làm cho đỡ khó chịu. Dòng sông ngầu đỏ mênh mông bờ bãi. Tả ngạn có vẻ trù phú hơn còn hữu ngạn có vẻ hoang vu hơn. Chàng thanh niên trợ giảng người Phú Yên đứng cạnh Alexandre de Rhodes khẽ thưa.

“ Lạy thầy, đây là sông Cái”

Linh mục Rhodes, vị thừa sai kiệt xuất của dòng Giê duýt, một trong những sứ giả đầu tiên của nền văn minh phương Tây Thiên Chúa giáo với sứ mệnh như hà ý thị tổ sư Đông lai rồi đây còn được nhiều bộ chính sử chép dưới cái tên phiên theo kiểu Hán Việt, A Lịch Sơn Đắc Lộ nao nao bâng khuâng nhìn sông. Chiếc hạm thuyền cuối cùng khuất dần ngả rẽ giữa con sông nhỏ Chính Đức Hồng Đức, tiếp vào sông Đáy theo sông Hồng lối đi lên kinh thành Thăng Long. Đắc Lộ cầm bút, nét viết hoạt và rất tháu. “ Chúng tôi ghi thêm ở đây về cấu trúc và trang trí những chiến thuyền này. Mũi thuyền ( ngược với thuyền của châu Âu ) là nơi hệ trọng hơn cả. ở đây có một phòng hay một ngai chạm trổ và trang hoàng nhiều tranh ảnh quý, với vàng son óng ánh. Gỗ ở dưới thuyền cũng sơn vàng son, chạm trổ cầu kỳ ở tất cả bên ngoài. Dĩ chí đến mái chèo và cột buồm cũng được trang trí đặc biệt. Khi hành trình thì theo hiệu lệnh do một dụng cụ bằng thanh tre đập nhịp điều hoà tiếng vừa trầm vừa cao. Người chèo, chèo rất khéo rất lẹ. Tay chèo nhẹ bởi gỗ nhẹ, cho nên chỉ một hay hai người đủ để cầm tay chèo. Họ không kéo chèo vào mình, mà đứng lên lấy hết sức mình đẩy ra trước mặt. Nghề này không có gì là hèn hạ, nhục nhã như thường thấy ở châu Âu. Người chèo trong các tầu chiến thường là binh lính và không có một người nào ( Nhất là khi chúa có mặt ở trên thuyền) lại không coi việc chèo là một vinh dự”. Sóng nước đều tăm tắp rẽ theo từng vệt chèo. Trí giả nhạo thuỷ. Cái ông thầy người Trung Hoa tên là Khổng Khâu được đám nhà Nho ở đây phong thánh nói có vẻ cũng hữu lý. Kẻ trí lự nhìn cuồn cuộn nước chẩy, tự thấy sâu sắc buồn hơn. Hùng vĩ và hiểm trở thật. Sóng ngun ngút khói nước không để vết hằn, làm như không có hơn ba trăm chiến thuyền vừa đi qua. Duy chỉ có vài tấm băng vải bó vết thương dở của đám lính bại trận cẩu thả ném xuống lòng sông, dập dềnh trôi ngược lại. Mầu hồng của nước sông bất lực không hoà tan được mầu đỏ tươi của máu. Đắc Lộ lững thững đi lại phía mũi thuyền. Ông cao và rắn chắc trong bộ áo chùng đen bằng đũi Đàng Ngoài, quà mới tặng từ chính tay của Thanh Đô Vương. Khi còn ở áo Môn, thời tiết rất khó chịu, Đắc Lộ mặc áo sợi bông chăm chỉ tập thiền. Ngoài ô cửa sổ xây gạch vòm cuốn theo kiểu lỗ châu mai là những cơn mưa cận nhiệt đới rả rích mang từng hạt nước to nặng. Đắc Lộ thích cái kiểu ngồi kiết già đó, nó làm cơ bụng rắn và không thấy buồn ngủ. Cách ngồi kiết già cũng như cách đếm nhịp thở, Đắc lộ học lại từ một thầy fakia râu rậm khi ông có hai năm lê thê dài ở Goa. Hồi ở Thanh Chiêm với cha Pina, Đắc Lộ ngồi thiền mặc bộ bà ba mầu gụ của người Đàng Trong. Tất nhiên là trông hơi kỳ dị, đấy là bà Gio Anna nói thế. Cũng như mọi giáo sĩ khác, tuy mới ngoài ba mươi Đắc Lộ đã để râu dài. Giọng bà Gio Anna hơi nũng nịu.

“ Lạy cha, con thấy cha ngồi hơi giống mấy ông sư”

Cũng khó giải thích thật. Nếu nghiêm khắc mà xét thì mỗi tôn giáo đều có riêng một tư thế khi trầm lặng tĩnh tâm. Nhưng rốt ráo quan trọng là tâm phải được tĩnh, còn dáng vẻ. Lạy Chúa, xin cho tâm con được bình an. Hãy để cái cặp mắt đen kia nhắm bớt lại. Tất cả các tôn giáo đều có chung một sự quyến rũ mê hoặc. Khi ma quỷ hiện lên quấy rầy Đức Phật Thích Ca, Đức Chúa Giê Su, hầu hết bọn chúng đều mang khuôn mặt của đàn bà. Còn cái nhà ông Khổng Khâu ít bị gặp chuyện ấy chỉ vì đơn giản cho tới lúc hành đạo, ông ta vẫn còn vợ vẫn còn con. Ông ta phải bầy ra rất nhiều chuyện lễ nghĩa để tự thanh tẩy mình. Cái lễ của Khổng Tử tuy rườm rà nhưng hay thật. Lúc chưa tới buổi nguyện chiều, rỗi rãi, Đắc Lộ âm thầm dịch Luận Ngữ ra tiếng Việt. Nghe đâu chính ông Nghè Bộ, kẻ tử thù của cha Pina cũng đang làm việc này. Phản ứng của giới trí thức nhà Nho là phản ứng dữ dội và nguy hiểm nhất đối với các thừa sai. Tại sao họ điên dại tin vào một người phàm chỉ nhờ học thức và trí thông minh rồi có thể thành Thánh nhân mà không chịu tin rằng đấy là ý muốn cao cả của Đấng tối thượng đã lập nên trời đất. Sinh đã là ký, tử đã là quy thì cái kiếp sống nhờ gửi này phải có một chỗ vĩnh viễn đi về đó là nước Thiên Đàng. Alexandre de Rhodes cao giọng.

“ Trong sách Đại Minh có lời rằng. Thiên phù địa tải. Trời che đất chở. Vậy thì trời là nhà, đất là nền. Hễ có nhà nào thì có kẻ làm nên mà mới nên, phải có chủ nhà chứ”.

Gã cử nhân tuổi trạc trung niên cố ra vẻ hom hem cao niên, vằn mắt cục cằn.

“ Ông nói như củ chuối ấy. Mẹ cái bọn nước ngoài. Các con đâu. Đập, đập hết đi”.

Cậu thanh niên trợ giảng có tên Thánh là Anrê, uỡn ngực đứng lên che cho thầy. Cậu ta lúc nào cũng vậy, kể cả lúc như bây giờ nắng sông đang làm cho cậu ta bật hắt hơi. Đắc Lộ dịu dàng bảo cậu bé hãy lui vào bóng râm của mái vọng lâu. Lúc có riêng hai thầy trò bao giờ Đắc Lộ cũng gọi cậu là Nhan Hồi. Tất nhiên là đừng để cha Pedro Marques nghe thấy. Cha Marques sinh tại Nagasaki mẹ là người Nhật có đức tin cứng cáp mạnh mẽ. Cha là giáo sĩ đồng hành duy nhất cùng Đắc Lộ trong hành trình truyền giáo ra Đàng Ngoài lần này. Và tất nhiên cũng đừng để đám nhà Nho nghe thấy. Chao ôi, đám nhà Nho, sao các người hung dữ cuồng tín đến vậy. Cha Marques kể, hồi ở Nhật, Thiên Hoàng bức hại cấm đạo, người ta đem các giáo dân không chịu bước qua Thánh Giá, treo lộn ngược đầu úp mặt xuống hố phân. Cứ thế một ngày, cứ thế hai ngày, cho đến khi tuyên thệ vĩnh viễn từ bỏ Chúa. Bà Gio Anna nghe chuyện nức nở, vô tình bàn tay nắm chặt tay Đắc Lộ, cặp mắt đen sẫm nước vùi trong khăn lụa.

“ Cha ơi, hay người bỏ tất đi rồi cùng con biệt tăm tới nơi xứ khác”.

Anrê lúc ấy thực sự là một cậu bé tròn mắt nhìn thầy. Còn Đắc Lộ ngước mắt nhìn tượng Chúa khổ nạn. Chàng thanh niên trợ giảng tiếc rẻ nhìn sông dài rồi lui vào dưới mái vọng lâu. Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp. Con thuyền không lớn này đóng theo kiểu phương Tây, được chúa thượng ân sủng cho đi vào cuối hạm đoàn. Chiếc thương thuyền Bồ đào Nha, trang bị như một chiến thuyền, nặng nề lắc lư trôi ngược. Ngoài những khẩu thần công có cỡ nòng 80 ly của xưởng Bocarro ở Ma Cao trùm vải bạt dầy xếp thành hai dẫy trên mặt boong thì trong bốn khoang hàng đều chất đầy súng hoả mai và súng tay của một xưởng đúc súng nổi tiếng ở Tu Lông. Cạnh những hòm quân khí ấy đuợc chen vào những rương lỏng chỏng tượng Chúa Cứu Thế, tranh và ảnh ông thánh Giu Se Đức mẹ Maria. Đấy là nghịch lý hay là lẽ quyền biến. Muốn cứu người thì phải chứng kiến cảnh giết người. Lạy Chúa, vì tội lỗi tăm tối của chúng con nên Người đã vẽ những nét thẳng bằng đường cong. Chúa Đàng Ngoài Trịnh Tráng cau mày nghi hoặc hỏi.

“ Thế kia là cái quái quỷ gì”

Sừng sững cao bên vách núi đá bao quát nhìn cả vùng Cửa Bạng là cây Thánh giá bằng gỗ lim mà hai thừa sai đã cùng vài chục nam giáo dân xứ Thần Phù vất vả suốt mười chín ngày để dựng lên. Chênh chếch đấy là cái đền thờ một thiếu nữ quyên sinh vì thất tình mà lúc đầu cha Marques khăng khăng đòi đập bỏ. Nhưng Đắc Lộ cực lực can ngăn. Trung tuần tháng bẩy năm 1625 cha De Mattos là đấng bề trên Kinh lược dòng Tên đến Ma Cao triệu tập hội nghị thừa sai và công bố nhiều lệnh cấm. Không dùng người tân tòng bản xứ làm thầy Giảng. Không chấp nhận những nghi lễ địa phương thờ tiền nhân. Không được dùng ngôn ngữ bản xứ dịch những từ quan trọng của đạo, ví như gọi Deus là Thiên Chúa. Và giờ đây dưới chân chúa Đàng Ngoài, Đắc Lộ trong bộ quần áo thương gia sụp lạy kính cẩn.

" Khải bẩm chúa Thượng, đấy là đài hải đăng làm theo kiểu phương Tây. Tất cả thương thuyền người Bồ khi nhìn thấy nó thì biết cách định hướng mà cập vào bờ".

Tất nhiên có vài đại thần hiểu rộng định tiến lên phản biện, nhưng nhìn vẻ hài lòng của chúa Thượng khi nghe lời tâu của Đắc Lộ thì lại hèn hạ lùi xuống. Kẻ sĩ Bắc Hà thời nào cũng không có nhiều. Mình sẽ phải nói dối theo kiểu ấy thêm bao nhiêu lần nữa. Đắc Lộ dựa hẳn người vào cái lan can ọp ẹp của chiếc thuyền nhỏ bàng bạc nhìn buổi chiều. Nước biển gần bờ ngăn ngắt xanh. Hôm nay là hai mươi tám tháng ba năm 1629, cách cái ngày đầu tiên Alexandre de Rhodes đến đàng Ngoài gần tròn đúng hai năm. Chuyến lưu đầy này vẫn chưa phải là chuyến lưu đầy cuối cùng. Bỗng viên cai đội thuyền trưởng dướn hẳn người lên chăm chú nhìn vào ống nhòm. Chỗ cái sân lát đá trước đền thờ trinh nữ thấp thoáng vài ba thớt ngựa. Dịch lên trên một chút nữa, duới ngay chân Thánh Giá có chừng bốn năm người đang khoa chân múa tay. Viên cai đội chỉnh tiêu cự, ông ta đã nhận ra mấy giáo dân cuồng tín người Thăng Long. Khuôn mặt ròng ròng mồ hôi của hai thầy giảng trẻ Phanxicô Đức và Inhaxiô Nhuận là nhìn thấy rõ nhất. Quay lại chàng thanh niên trợ giảng Anrê, ông ta bảo.

- Phúc mấy gã thầy trò của nhà mày cao thật. Đi đến tận đây mà vẫn có người chạy theo để tiễn.

Chàng thanh niên cười cầu tài tỏ vẻ muốn mượn cái ống nhòm. Viên cai đội nhếch miệng cười mỉa rộng rãi chìa tay cho mượn. Anrê nhìn, và như vô thức anh hốt hoảng buột miệng kêu tên cực trọng. Đắc Lộ không nghe thấy gì, ông như đang miên man ngập người vào ký ức. Dòng sông thời gian, chẳng bao giờ có thể uống nước sông ở cùng một chỗ. Con sông Cái của mùa lũ tháng giữa hè đến đây nước bỗng ngầu xiết đùng đục đỏ. Người đàng Ngoài liệu có sốt sắng đức tin như người đàng Trong. Thừa sai Rhodes mỏi mệt lỏng người bâng quơ ngồi lên thân một khẩu thần công. Số lượng vũ khí chở trên chiếc thuyền được đóng tối tân này giá trị chừng hai mươi nghìn nén bạc. Nhưng nó cũng chưa thấm vào đâu so với chiến phí của chiến bại vừa rồi. Nguyên suý thống quốc chính Thanh đô vương Trịnh Tráng đích thân hộ vệ thánh giá hoàng thượng đi nam chinh đã thất bại trở về. Chiến dịch quân sự này là chiến dịch có quy mô lớn đầu tiên giữa hai miền Nam Bắc. Chiến dịch phát khởi vào tháng ba năm Đinh Mão (1627), kéo dài gần bốn tháng để kết thúc thê thảm vào ngày hôm nay, mồng một tháng bẩy. Trong suốt hai mươi năm tới sẽ còn sáu chiến dịch nữa ở tầm cỡ như vậy. Toàn bộ bốn châu Hoan ái Ô Rí sẽ xơ xác nồng nặc mùi tử khí. Thế kỷ Mười bẩy rồi thế kỷ Mười tám sẽ chứng kiến đất Việt cạn kiệt nội lực. Và nước An Nam hoặc hùng ngôn là Đại Nam đương nhiên chính thức trở thành một nhược quốc. Nó đau đớn bị xâu xé bởi ngoại bang phương Tây là nước Pháp, một quốc gia có một quốc đạo lạ lẫm. Đó là điều tốt hay là điều xấu. Đa phần các giáo sĩ thừa sai đều đặc biệt quan tâm đến chính trị. Không thể không quan tâm. Và hầu hết các giáo sĩ đều giành nhiều cảm tình cho vương triều đàng Trong. Đắc Lộ cũng vậy. Không phải ngẫu nhiên mà trong suốt thế kỷ mười bẩy ưu thế trọng pháo của vương triều Nguyễn phía Nam đã cân bằng thực lực quân sự với vương triều Trịnh phía Bắc, mặc dầu quân đội của nó chỉ bằng một phần hai thậm chí một phần tư. Đắc Lộ nhìn sông Hồng, thấy nó cuồng vĩ trì trệ xa cách và ngạo nghễ khác hẳn sông Trà. Nhưng đấy cũng chỉ là một cảm thức hoang mang nhất thời. Không có gì khác nhiều giữa bà thiếu phụ Gio Anna và cô thiếu nữ Flora Huệ. Lạy Chúa, chẳng phải chính người cũng đã hoang mang khi ở vườn Giệt sê ma ni. Giờ đây trong sâu xa Rhodes thấy nhiều vô nghĩa hoặc nếu có nghĩa thì cũng mong manh, nhất là khi đọc những tông hiến những huấn dụ được ban phát một cách quan liêu từ toà Thánh già cỗi và bảo thủ Rô Ma. Những cuộc truyền giáo thành công đều là những cuộc ồn ào. Mà đời sống tu trì giữ gìn đức tin của một giáo đồ luôn là miên man thiêng liêng riêng tư tĩnh lặng. Cha Đắc Lộ mệt mỏi nhìn đám giáo dân kẻ quỳ người đứng, khe khẽ thở dài. Cha bắt đầu buổi lễ Lá, một trong những lễ trọng thể bậc nhất của mùa chay. Thành Thăng Long đang chuyển mùa, mây đùng đục kéo vớt vát một vài đợt rét cuối. Bây giờ đã là đầu tháng ba năm 1629. Cậu trợ giảng Anrê đứng sau kín đáo khẽ giật gấu tay áo linh mục Đắc Lộ. Những kẻ dữ cũng đã đến. Đi đầu vẫn là một hoà thượng chậm chạp tuổi rất trọng. Trông ông ta yếu ớt nhưng giọng nói khoẻ đặc biệt vang rõ nét sang sảng. Cạnh ông ta vẫn là gã cử nhân trung niên hung hăng. Thực ra hai người này thờ hai tà thần khác nhau. Ông sãi kia tin vào đạo Thích, người đàng Ngoài mỗi nơi đọc sai đi một chút nhưng gọi chung là Thích Ca. Còn gã cử nhân kia thì tôn kính Khổng tử là một người nước Tầu theo sử liệu thì vào cùng thời với Aristote bên Hy lạp. Cha Đắc lộ mấp môi như đang đọc kinh nhưng nói khẽ đủ nghe cho cậu trợ giảng.

" Con đưa cha Marques vào gian trong"

Phải hơn một trăn năm nữa các nhà thờ ở Việt Nam mới có phòng thay áo. Còn cái nhà thờ tuyềnh toàng này được chính tay đội ngự lâm quân của phủ chúa cất lên. Ngoài tiền có từ sự hảo tâm của vài tín nữ quyền quý, muốn dựng được nó bắt buộc phải có ánh gươm lưỡi kiếm. Sự phẫn nộ của đám nho sinh của những người rồi đây được gọi là lương dân hoàn toàn không phải vì chuyện bảo vệ đức tin một chiều. Hầu hết các thừa sai dòng Tên không khuyên bảo người dự tòng làm những việc xúc phạm đến Tam giáo. Tất thẩy họ đều biết sợ. Sự "từ bỏ ma quỷ" của nhiều người dự tòng sốt sắng quá mức. Một số tân tòng nhiệt tình muốn dẹp hết mọi thứ nghi lễ địa phương liên quan đến cúng tế tổ tiên. Họ huyênh hoang đeo nhiều ảnh và tràng hạt ở cổ với vẻ phô trương thách thức. Đi đường lúc nào cũng mang theo nước thánh, nhánh cây lễ Lá, nến làm phép để trừ quỷ và chữa bệnh. Họ còn công khai hãnh diện đi gắn Thánh Giá ở các đầu ô kinh thành Thăng Long. Ông già tân giáo Gioakim mới có tên Thánh, vốn xuất thân từ một thủ từ trông chùa đã nói thẳng vào mặt Đắc Lộ là cha không biết mở mang nước Chúa không dám xưng Đạo ra trước mặt thiên hạ. Lạy Chúa, phải chăng lịch sử  chỉ là một vòng tròn hoang mang lặp lại một cách nông nổi. Nhiều người trong số giáo dân đầu tiên ở thành Giê du da lem khi nghe Đức Giê Su thuyết giảng chắc cũng vậy. Và những tân tòng La Mã thời thánh cả Phê Rô liệu có đông những kẻ mù loà ồn ào tuẫn tiết. Đám đông đáng thương hơn là đáng trách. Họ luôn bối rối muốn tìm kiếm đức tin với tất cả sự khát khao trong trắng. Thế là nhan nhản cực đoan tranh chấp cuồng tín thành kiến. Chẳng có tôn giáo nào khuyến khích những sự dữ ấy cả. Vị hoà thượng già vừa lần tràng hạt vừa khẽ lầm nhầm tuyên Phật hiệu rồi điềm đạm lịch thiệp hỏi.

" Này, vị hành giả kia. Ông căn cứ vào đâu mà nói Niết Bàn là một thứ tuy gần giống Thiên đàng của các ông nhưng ở trạng thái hoàn toàn lãnh đạm với thế giới nhân sinh. Và để tự cứu độ mình đạo Phật chủ trương xuất thế vô tình với tất cả chúng sinh. Ông có vẻ là bậc trí giả sao ông nông nổi thiển cận vậy. Ông không biết rằng đức Phật luôn tuyên bố, Phật pháp bất ly thế gian giác. Muốn giải thoát hay nói theo kiểu các ông là muốn cứu độ cho cả thế gian vô thường này thì có biết bao nhiêu là con đường. Tại sao Chúa của các ông nhỏ nhen dám tự nhận mình là con đường duy nhất".

Ngày 22 tháng 10 năm 1994, cuốn Crossing the threshold of Hope dịch từ nguyên bản tiếng ý của giáo hoàng John Paul 2 được phát hành rộng rãi. Không biết bao nhiêu các bậc thiện trí thức Phật tử trên khắp thế giới phẫn nộ phản hồi. Một trong nhiều câu hỏi đặt ra, giống hệt như câu hỏi của vị hoà thượng già hỏi Đắc Lộ. Xưa và nay. Tương lai và quá khứ, chỉ là sự phân biệt linh tinh mù loà của con người. Dưới cái nhìn thấu suốt triệt để của các bậc chân chính giáo chủ đã tới cảnh giới giác ngộ, mọi sự như như không khác. Đắc Lộ mang máng biết vậy, nhưng ông cũng biết ông chỉ là một thừa sai nhỏ nhoi phàm trần xác thịt. Mặc kệ những gầm gào của đám người đối diện Đắc Lộ định nói, ông định trích dẫn Thánh kinh phần sách Công đồ tông vụ. "Không có ơn cứu độ nơi một người nào khác. Vì dưới gầm trời này không có một danh nào khác đã được ban xuống cho nhân loại để phải nhờ vào đó mà chúng ta trông được cứu thoát". Đây không phải là một tín lý tư biện mà đấy là một xác nhận của Đức Tin. Phải sống trong đức tin thì mới luận lý chân thành được. Danh xưng chỉ phù phiếm là danh xưng, nhưng Chúa là danh xưng tối hậu rốt ráo nhất. Nhờ vào cái danh toàn vẹn ấy mà tôi cũng như ông tới được bến bờ của bình đẳng vị tha bác ái. Đắc Lộ chỉ băn khoăn không hiểu là đức Thánh Cha có tục danh Vojtyla của thế kỷ hai mươi nếu trả lời thì sẽ giống như ông không. Gã cử nhân mặt nghiêm tái mét cắt ngang.

"Này, gã Hoa Lang ngạo mạn ngoại quốc kia. Tất cả thuyết lý của mi chỉ là tà thuyết. Đạo của các người là bất hiếu bất nghĩa với tổ tiên tiền nhân. Bất trung với quốc gia dân tộc. Với bọn ngươi, phương cách duy nhất chỉ là tru di tận diệt".

Như thế không phải là tranh luận nữa rồi. Như thế nghĩa là đầu rơi máu chẩy. Không cần đến hai trăm năm nữa, Đắc Lộ đã chắc chắn biết người Công giáo sẽ chịu hệ luỵ thê thảm từ phong trào Văn Thân sát đạo. Nghẹn ngào trong một thời gian ngắn, Việt Nam có hơn một trăm vị thánh tuẫn tiết. Thế nhưng, đừng chỉ thấy cái rằm trong mắt người khác mà không thấy cái xà gồ nằm trong mắt mình. Từ thời thừa sai lỗi lạc Matteo Ricci cho đến qua cả thời Alexandre de Rhodes, những giáo sĩ có trí thức đều biết uyển chuyển thích nghi khi truyền giáo, họ chân thành tôn trọng những phong tục nghi lễ bản xứ. Chúa đã sáng tạo và xếp đặt mọi sự. Việc người Việt thờ kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ đều nằm trong chữ hiếu hoàn toàn phù hợp với giới răn thứ Bốn. Sau hội nghị ở Ma cao có mặt Kinh lược bề trên Dòng, cha Đắc lộ và những giáo sĩ giống như ông đã phủ phục dưới chân đức Thánh cha trước cửa đền Phê Rô ở La mã ròng rã kêu khóc. Nước mắt của các ông chẩy suốt bao nhiêu năm để rồi Bộ truyền giáo ra Huấn thị cho các đại diện tông toà đi các nước Chine, Tonkin et Cochichine. " Đừng vì nhiệt tâm, đừng tìm luận chứng nào để bắt các dân địa phương thay đổi những nghi lễ những phong tục của họ khi chúng hiển nhiên không ngược với tôn giáo và luân lý. Còn gì chướng hơn là mang một chút nước Pháp, Tây ban Nha, Italia hoặc một xứ nào đó ở Âu châu đặt vào chỗ người Tầu. Hãy mang đức tin vào thôi". Huấn thị đặc sắc năm 1659 này nếu trọn vẹn được thực hiện thì việc truyền bá tin mừng ở á châu sẽ tốt đẹp tươi lành nhân hậu biết bao nhiêu. Rồi đây Công đồng Va ti căng 2 đã biết cảm ơn nó. Đắc Lộ nghẹn nhăn nheo đọc nó trong nhưng ngày cuối cùng trên giường bệnh ở xứ Ispahan tại I ran xa xôi. Ông nhớ về cái am thờ đức Phật Bà Quan Thế âm Bồ tát của thiếu phụ Gio Anna. Ông nhớ cái giọng thanh trong của thiếu nữ Flora Huệ khi đọc Kinh nguyện giỗ phục dĩ chí tôn, bản tiếng nôm của thầy giảng Phanchicô người Chí linh Hải dương. Một văn bản Thần học Catholic đậm văn phong Việt, nó gần gũi thân thiết đến mức cho tới giữa thế kỷ hai mươi, các anh chị em tín hữu đàng Ngoài vẫn quen đọc nó trong các ngày giỗ. Alexandre de Rhodes biết tất cả những điều đó và có lẽ duy nhất một điều ông không biết là dưới sự minh khải của Thiên Chúa tối cao với sự nỗ lực tâm huyết làm chữ quốc ngữ của ông, ở Việt Nam đã có thêm vài ba nhà văn thật. Đắc Lộ giật mình tỉnh thức, khi cậu thanh niên trợ giảng Anrê lại gần hấp tấp đưa cho ông cái ống nhòm. Mặt cậu ta nhợt nhạt như chiếc khăn dùng làm lễ Thánh Thể.

- Lạy thầy, con đã nhìn thấy.

Đắc Lộ cầm cái ống nhòm nhìn theo hướng tay cậu trợ giảng chỉ. Trên chênh vênh vách đá là cô bé Flora Huệ. Trinh nữ như đang khóc thảm thiết, vừa như đưa tay làm dấu vừa như cuồng nhiệt vẫy về phía thuyền. Hai người đàn ông bên cạnh tuyệt vọng cố giữ chặt tay cô bé. Chon von đỉnh núi có sừng sững cây Thánh Giá gỗ lim, chỉ thêm một bước nữa là cô bé sẽ rơi xuống mép biển sâu ngăn ngắt. Viên cai đội thuyền trưởng cay đắng.

- Mù quáng. Sự mù quáng sẽ giết chết cô ấy. Còn ông, ông là kẻ có tội.

Đắc Lộ sấp người quỳ xuống lòng thuyền nức nở khóc. Gió trái mùa loay hoay thổi nhấp nhô những con sóng vô định. Hình như lúc ấy đang là cuối tháng ba năm 1629. Một buổi chiều có nắng muộn của mùa chay./.

 

(còn nữa)

 

Ý kiến của bạn về bài viết này:
Tên người gửi
Email
Tiêu đề
Nội dung
 
Chú ý: Ý kiến của bạn phải được Ban Quản Trị duyệt mới dược hiển thị

Một số ý kiến đóng góp về bài viết này:

 

 
TÌM KIẾM
Sắp xếp theo tên tác giả
BÀI ĐỌC NHIỀU

Nguyễn Bình Phương

 

Đặng Thân

 

Dương Kiều Minh

 

Đoàn Minh Hải

 

Nguyệt Phạm

 

Đỗ Kh.

 

Lê Vĩnh Tài

 

Hoàng Ngọc-Tuấn

 

M.Đ.Triều Tâm Ảnh

 

Trịnh Cung

 

eL.

 

Khánh Phương

 

Lê Ngân Hằng

 

Nguyễn Việt Hà

 

Nhã Thuyên

 

Nguyễn Quang Thiều

 

Lam Hạnh

 

Y Ban

 

Đỗ Phấn

Số lượt người truy cập:
Trang chủ | Kết nối | Mai Văn Phấn | Poetry by MVP | Liên hệ  

Bản quyền trang Web thuộc về MAIVANPHAN.COM @2007
Email: maivanphan@gmail.com