(rút từ bản thảo cuốn sách HỒI TƯỞNG VỀ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ KHUẤT- V)
Tên cúng cơm của bà là Trầm. Nhưng cả làng gọi bà là bà Thái Lan. Sau này lớn lên tôi mới được biết vì bà là Việt kiều ở Thái Lan về cho nên làng gọi như vậy. Sau ngày hoà bình năm 1954, thấy đất nước hoà bình và theo lời kêu gọi của Chính phủ, khá đông Việt kiều từ nhiều nước đã trở về tổ quốc. Gia đình bà cũng náo nức trở về. Trong những năm ở Thái Lan, vợ chồng bà chỉ là những người buôn bán nhỏ ở một thị trấn phía đông Bangkok. Cho nên về nước, vợ chồng bà loay hoay chẳng biết làm gì cụ thể cho tổ quốc. Nhưng sự trở về với niềm hãnh diện được làm công dân của một đất nước độc lập sau triền miên nô lệ là một hạnh phúc lớn với họ. Và sự trở về của gia đình bà Trầm cũng như bao gia đình khác đã là sự đóng góp với Chính quyền mới rồi. Vì sự trở về đó minh chứng khát vọng của người dân nô lệ đối với độc lập tự do và sức thuyết phục của Cách mạng. Sau một thời gian ngắn ở Hà Nội, vợ chồng bà quyết định đưa hai người con trai trở về làng.
Chỉ cần nhắm mắt lại là tôi thấy bà hiện ra. Lúc nào bà cũng quấn một dải khăn nhung màu tím Huế trên đầu và đeo một đôi hoa tai vàng. Trở về quê, vợ chồng bà tậu mảnh đất và dựng một ngôi nhà ở phía sau hậu cung đình làng. Chính ngôi nhà ở vào vị trí đó mà sau này có biết bao câu chuyện huyền bí được người làng Chùa kể cho nhau nghe hết đêm này đến đêm khác. Làng Chùa là làng tôi, nơi mà ngày 12 tháng Giêng năm nay đã tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5 . Người đầu tiên trong gia đình bà ra đi là ông Thái Lan. Ông mất khi đang ngồi rửa mặt trước chiếc chậu thau đồng. Bất chợt ông gục xuống, úp mặt vào chậu nước mà chết. Người làng Chùa kể rằng : trước kia có một ông phó cối đi qua làng, nhìn ông Thái Lan đang chơi cờ tướng ở hiên nhà, thở dài mà nói “ Không qua sông mà chết đuối ”. Nói rồi bước đi, thoáng một lúc đã không thấy đâu.
Sau đó một năm, chị Thông , con dâu cả của bà Thái Lan lại ra đi. Năm ấy chị mới ngoài ba mươi tuổi. Chị không ốm đau gì mà mỗi ngày cứ ít nói dần đi. Rồi đến một thời gian hầu như chị không nói gì cả. Chiều chiều chị ra bờ giếng đình ngồi im lặng và nhìn không chớp mắt về một chốn nào đó xa xôi. Người bảo chị nhớ cái thị trấn phía đông Bangkok, nơi chị sinh ra và lớn lên. Người bảo chị nhớ người chồng đi lính đã mấy năm không thấy về. Chị cứ lặng lẽ và lặng lẽ như thế cho đến một chiều gội đầu xong, hong tóc khô rồi nằm xuống ngủ và không bao giờ thức dậy nữa. Thi thoảng thấy mẹ tôi đi qua, bà Thái Lan lại đon đả : “ Mời bà giáo vào nhà xơi nước”. Rồi bà nói với mẹ tôi rằng hồn người con dâu vẫn thường xuyên trở về đứng bên đầu giường bà. Tóc người con dâu đã chết phủ lên mặt bà làm bà có lúc ngạt thở tưởng chết. Bà vùng dậy. Người con dâu lại lướt đi như gió và đến bên bờ giếng đình bán nguyệt thì xoè váy áo mà nhảy xuống làm nước bắn lên tung toé ướt một nửa sân đình. Nhiều người lớn nghe chuyện này sợ đến không dám đi đái đêm. Nhưng thi thoảng bọn trẻ con chúng tôi vẫn ra đình làng chơi trận giả vào những đêm sáng trăng. Và khi khát nước chúng tôi vẫn mò ra giếng đình chúi đầu xuống uống ừng ực nước giếng đêm mát lạnh mà chẳng thấy sợ hãi chút nào. Có những đêm chúng tôi chơi trò đuổi bắt và chui vào tận góc trong cùng của hậu cung đình làng trong ánh nến chập chờn và mùi hương trầm bí ẩn. Chúng tôi nấp sau lưng những tượng Phật. Có đứa còn ngủ quên trong hậu cung cho đến tận sáng hôm sau. Người làng cứ đợi chờ trong lo sợ nơm nớp những đứa trẻ “ ngủ hỗn ” trong hậu cung sẽ bị bệnh tâm thần. Nhưng những đứa trẻ ấy cứ lớn lên với trâu bò, cua cá, cóc nhái mà chẳng đứa nào mắc bệnh cả.
Sau cái chết lạ lùng của cô con dâu nhà bà Thái Lan thì đến lượt anh Lan, người con trai thứ hai của bà, cũng lại ra đi. Khi đang giảng bài cho học sinh, anh bỗng ôm ngực, thổ huyết lên đầy bàn và mất. Hồi ấy, anh dạy học ở Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây. Năm ấy anh còn rất trẻ chưa vợ con gì. Bà Thái Lan có hai người con trai. Người con trai cả tên là Thông lúc đó đang tại ngũ trong quân đội. Chỉ trong vòng mấy năm, những người trong gia đình bà Thái Lan cứ liên tiếp ra đi. Nhưng bà Thái lan vẫn như không có gì thay đổi. Bà vẫn đội chiếc khăn màu tím Huế và đeo đôi hoa tai vàng. Và bà vẫn sống trong ngôi nhà sau hậu cung đình làng với đứa cháu gái nhỏ con của người con trai cả. Rồi người con trai cả về để đưa bà và đứa con gái của anh rời làng một lần nữa ra đi. Nhưng bà kiên quyết ở lại. Bà nói bà đã già và bà phải được chết ở quê hương của bà. Người con trai cả ngậm ngùi ra đi. Bà Thái Lan ở lại với đứa cháu nhỏ và mọi sinh hoạt và phong thái của bà cũng không hề thay đổi.
Đến một ngày, người ta nghe tiếng mèo gào thảm thiết trên mái ngói nhà bà Thái Lan. Nhưng không ai để ý. Cho đến đêm không biết từ đâu mà lũ mèo tụ tập rất đông trên mái nhà của bà Thái Lan và gào suốt đêm làm cả làng không sao ngủ yên. Sáng sau, những người đàn ông vội đến để xem có chuyện gì mà mèo hoang về gào như thế. Ngôi nhà bà Thái Lan im ỉm. Lúc này họ chợt nhận ra hình như hai ngày trước đó không thấy bà Thái Lan vẫn khăn màu tím Huế và đeo đôi hoa tai vàng đi dạo quanh khu đình làng. Họ phá cửa vào nhà và kinh hãi nhận ra bà đã chết. Nhưng họ kinh hãi hơn khi thấy đứa cháu gái của bà đang thiêm thiếp bên bà. Đứa bé vẫn còn sống nhưng người ta không hề nghe tiếng khóc của nó. Có thể nó đói quá lả đi và cũng có thể nó sợ hãi quá mà không khóc thành tiếng được nữa. Đứa bé gái đã nằm bên người bà đã chết hai ngày một đêm.
Sau khi bà Thái Lan được chôn cất, mấy đêm liền người ta nghe có tiếng động trong ngôi nhà của bà Thái Lan. Nhưng không ai dám mở cửa bước vào. Nhưng rồi đến ít ngày sau, người ta nhận thấy có kẻ nào đó đã lẻn vào nhà bà Thái Lan trong đêm đào tung nền nhà và đục hết các mạch vữa của bốn bức tường. Lúc này người làng mới nhận ra có kẻ đã lẻn vào tìm của. Trước đó, người làng vẫn đinh linh bà mang rất nhiều vàng từ Thái Lan về cho nên bà mới sống yên tâm mà không làm gì trong nhiều năm. Suốt những năm sau này, người ta bàn tán với nhau về những cái chết lạ của gia đình bà Thái Lan. Rất nhiều người quả quyết vì gia đình bà đã dám ở trên đất của Thánh. Nghĩa là gia đình bà đã xúc phạm Thần Phật. Sau khi bà Thái Lan mất, anh Thông trở về đưa đứa con gái nhỏ rời làng ra đi và cho đến bây giờ cũng không thấy trở về. Có lẽ anh không bao giờ trở về nữa.
Ngôi nhà của bà Thái Lan không ai dám mua lại. Một thời Hợp tác xã nông nghiệp dùng làm kho chứa phân bón và thuốc trừ sâu. Nhưng sau đó ngôi nhà cũng bỏ hoang. Ngôi nhà trở thành nơi tập trung của lũ mèo hoang. Chính thế, nó lại trở nên bí ẩn hơn bởi những tiếng kêu gào như tiếng người đêm đêm. Chẳng ai dám vào. Chỉ bọn trẻ con thi thoảng chơi trận giả lại chui vào mà chẳng hề sợ hãi. Mấy năm nay, ngôi nhà được sửa chữa khang trang để làm nhà trẻ. Ngày ngày những đứa trẻ học hát bi bô và đùa nghịch cười nắc nẻ. Bọn trẻ con bây giờ không còn nghe những bàn tán vừa sợ hãi vừa bí ẩn của người làng về ngôi nhà ấy nữa. Và có lẽ tôi là người làng Chùa cuối cùng kể câu chuyện này mà thôi.
(còn nữa)
- Tranh đầu trang của Nguyễn Quang Thiều