| |
Đỗ Kh.

Kremenchuk trên giòng Eure
Cho đến giờ này, tôi chưa hề gặp Maria.
Mặc dù mang một cái tên rất là hương xa bên kia bờ Ebro hay là bên kia bờ Rio Grande nhưng hương xa của Maria là hương xa giòng Dniepr. Đã đành hương xa nơi này là hương gần nơi kia nhưng bên giòng sông Dniepr thì đặc thù phải là Ektarina, hay Tania mới đúng, Janna. Nhưng Maria lại tên là Maria, mặc dù như đã nói, mắt nâu và tóc dài rất là dona óng ả một màu đen. Tôi biết nàng được hơn sáu tháng nay nhưng chỉ thấy trên hình, lại là hình người mẫu, nên tôi không lấy làm tin tưởng mấy tuy qua năm bảy lần trao đổi, tôi có thể chắc một phần nào nàng không phải là người máy, một bot uốn éo hiện ra từ một thảo trình mềm.
Tôi gặp Maria ở trên mạng một website dành cho Tây Âu Mỹ muốn tìm vợ bạch bì, nghĩa là không phải dành cho Đài Loan tìm vợ Việt, Triều Tiên tìm Tây Thi, Ả rập tìm Mã Lai mà là cho những nam nhi cô đơn trên thế giới, nói đúng ra là sống ở những nước phát triển và lợi tức cao, và muốn được một bạn đời không tương xứng về sắc lẫn lại tài, và nhất là về tuổi, mà lại là da trắng. Điều này thì có thể thực hiện được qua trung gian của Russianladies.com (và đại loại vô khối) vì theo giải thích của các công ty môi giới, đàn ông Nga già trước tuổi, thiếu lịch thiệp và chỉ thích kiếm tiền rồi kiếm ra bạn rượu. Mà nam giới Nga, rượu uống lại nhiều mà tiền kiếm chẳng bao nhiêu. Cho nên đàn ông Tây Âu và Bắc Mỹ, chỉ bước qua phụ nữ khi nào cần mở cửa hộ và giữ cánh cửa cho khỏi đánh sầm vào khuôn mặt khả ái, nhớ ngày sinh nhật vợ và biết địa chỉ của cửa hàng hoa, uống rượu vào đúng bữa hay chỉ uống sau khi mặt trời lặn, có hơn đối tượng muốn tìm hiểu 20 tuổi, lại kém nàng học vấn năm hay ba năm, thì so đi so lại vẫn là vừa.
Maria cao hơn tôi 15 phân nhưng kém tôi 30 tuổi. Đổi hai năm lấy một centimét, thêm vào việc tôi ở Hoa Kỳ và Maria ở Ukraine thì cũng là xứng đôi. Maria tiếng Anh rất giỏi, làm nghề thông dịch gì đó cho công ty làm ăn với nước ngoài và thỉnh thoảng làm nghề người mẫu. Nàng gửi cho tôi một đống hình, mặc áo tắm đủ loại lượn qua lượn lại trước hồ bơi một khách sạn quốc tế ở Cairo. Hình người mẫu áo tắm thì tôi tìm đâu chẳng có, mà khách sạn ở Cairo thì tôi đã có biết rồi cho nên tôi không mấy quan tâm. Tôi lại không tìm vợ, tôi chỉ tìm hiểu, và tôi nói thẳng như vậy cho nên những kẻ buồn hồi âm tôi trên mạng cũng chẳng mấy người. Maria trong vài kẻ hiếm hoi, thoạt đầu phúc đáp là vì cảm thấy bị xúc phạm, thơ trả lời đầu tiên của nàng là “Tôi không phải là đĩ, nếu ông tìm đĩ thì lầm người rồi.” Đây là chuyện hiểu lầm, mà ở đời hiểu lầm là chuẩn chứ không phải là ngoại lệ, nhiều bạn tôi quan hệ 15, 20 năm rồi vẫn còn hiểu ngược thì chấp gì một người mới nhận được một e-mail. Tôi giải thích là tìm đĩ thì tôi biết tìm chỗ nào rồi, chẳng phải đến nàng, vậy là Maria vui vẻ. Nàng gửi cho tôi một cái thư dài, tả chuyện nàng đi trượt tuyết trên núi nhưng quên đổi tên của người nhận là một anh Eric nào đó. Cũng chẳng sao, một vài thư sau, Maria ngắn gọn hơn nhưng có trả lời tôi từng điểm chứ không chung chung kiểu feuilleton quần chúng. Tôi thì cũng vậy, tôi có năm mười bạn thư tín chưa hề gặp, chẳng lẽ mỗi người tôi lại viết một thư riêng, tuy tôi có cẩn thận hơn là nàng, dò lại từng câu tên người nhận.
Phần tôi, như vậy là không có sơ xuất, nhưng mà có lỗi hẹn. Vào đông, tôi hứa là tôi sẽ sang ngay Kiev nhưng tôi lại phải đi Hồng Kông. Tôi có sắm đồ lạnh cẩn thận, áo lót thermal, bao tay trong bao tay ngoài và vớ đùi, đến cuối đông vẫn còn dùng được, nhưng dịp này đi là tôi đi Bangkok. Sang mùa xuân, không có vấn đề nữa và trời đẹp, nhưng tôi không đi dâu hết và giờ thì đã vào hè, tôi sang Pháp, nghĩa là gần Ukraine trong vòng ba tiếng tàu bay. Nhưng người ở Paris, trong vòng một tiếng tàu điện tôi còn chưa gặp được nên Maria tôi lơ luôn, không còn dám hứa lèo*.
Maria lại là người tôi ít rõ về nhất trong những quan hệ trên mạng của tôi ở Đông Âu. Ekaterina, ở quê hương của Anton Chekov, tức là Taganrog trên giòng Don, gửi cho tôi hình sinh nhật của nàng từ năm 15 đến năm lên 30 tuổi và theo yêu cầu tìm hiểu của tôi, mở cửa tủ lạnh và chụp ảnh cho tôi thấy tận tường bên trong (đây là chuyện trao đổi sòng phẳng, tôi gửi cho nàng xem bên trong tủ lạnh nhà tôi). Tania, ở quê hương của Mikhail Bulgakov, tức là Kiev, gửi cho tôi hình nàng múa rốn, hình ở Đại Học Lviv, hình cỡi ngựa ở Moldavia và hình bố mẹ vào ngày kỷ niệm cưới. Janna tuy ở Zaporizhzhya nhưng hứa sẽ giúp tôi tìm ra làng Alexandrowska (trên đường đến Nemiroskoie bên giòng Kodima), nơi Domnul Capitan Curzio Malaparte đã từng giữ qua đêm một tù binh Tatar với một con ngựa chết chương trước nhà. Nàng có gửi cho tôi tấm hình, chụp với đứa em 7 tuổi chỉ mặc có mỗi cái quần lót (ở đây, dấu chấm phẩy rất là cần thiết cho sự trong sáng của câu văn, và không phải là “Nàng có gửi cho tôi tấm hình, chụp với đứa em 7 tuổi, chỉ mặc có mỗi cái quần lót!”). Nói tóm lại, Maria, đã không văn chương văn học gì đó, mà lại chưa chưng cho tôi được bằng chứng nào về sự có thật của nàng, chỉ mơ hồ những tấm hình người mẫu tuy là kiều diễm, nhưng bất cứ ai đi dạo một vòng trên mạng cũng nhặt được vài tá. Tôi có chút nghi ngờ và một cô bạn ở Kaunas, nghĩa là từng chung một quá khứ Liên Xô và hiểu rõ đàn bà, dặn tôi trong những quan hệ này phải thận trọng. Nàng nói, phụ nữ Nga, không phải ai cũng là Anna Karenina, phần lớn làm quen người nước ngoài trên mạng là có ý lợi dụng tuy là khi yêu thì cũng như mọi đàn bà, sẵn sàng cho đến giọt cuối cùng của bình samovar.
*
Chuyến tàu từ nhà ga St Lazare, Paris ra đến Trouville-Deauville chỉ có hai tiếng, và một ngày những năm bảy bận. Gia đình tôi đã ra biển trước bằng xe con, tôi có việc nên một hai hôm nấn ná. Nhảy tàu ra rất tiện và một tiếng rưỡi đầu hoàn toàn bình yên. Giờ thì hè nhộn nhịp nhưng chưa đến ngày Quốc khánh, cũng không phải là vào cuối tuần nên chưa đến nỗi chen lấn. Chuyến tôi đáp phải đổi ở Liseux đợi năm mười phút, từ đó đến Deauville là tàu TER tỉnh lẻ, vài ba ga xép trong vòng hai mươi phút, mang mùi đặc sản địa phương vùng Normandie. Nhắm mắt tôi cũng đến, đoạn đường này từ ba mươi lăm năm qua tôi đã đi vài chục bận, thuộc từng màu lá của mỗi mùa và khác biệt của ánh sáng vào những giấc trong ngày trên mỗi sân ga. Nhưng hôm nay tôi mở mắt, và ở bến Lisieux khi ngước lên khỏi quyển Paul Auster (chứ sao mùa hè), thì trông thấy Maria.
Lần trước mà tôi đọc Auster, thì cũng vào mùa hè, nhưng không phải bên giòng Eure mà trên giòng Nile lờ lững. Đến gần hồ Nasser, tàu phải chui qua một chân cầu nên hành khách phải rời khỏi sân thượng. Mọi người xuống từng dưới đứng, duy có tôi đang đọc sách nên không để ý trong khi tàu lướt chầm chậm về phía cây cầu định mệnh. Thả hồn vào trang sách nên tôi không nghe những tiếng gọi hối hả. Đến vào đúng lúc tàu lọt gầm cầu tôi lại gặp một đoạn buồn cười trong sách khiến tôi nhếch mép, trong khi đám đông vừa di tản xuống sàn tàu dưới đồng loạt há hốc miệng ồ. Họ tưởng tôi coi hiểm nguy này chẳng ra gì, điềm nhiên đọc sách lại còn toe toét mà ngạo nghễ trước tai nạn đập đầu (là chuyện chẳng phải đùa). Như một bài toán đố phổ thông cấp hai, một hành khách cao 1m70 đứng trên một nóc tàu khi tàu chui qua một chân cầu. Sàn tàu cách chân cầu 1m50 và vận tốc của tàu là 30 km/giờ trong khi cây cầu thì bất động. Vậy hỏi, hành khách này có bị chấn thương sọ não? Đáp, thì là “không, nếu hành khách này đang ngồi và đang đọc Auster.” Tôi chỉ thấy một cái bóng thoáng qua trên trang sách, và từ đó được các bạn đồng hành mệnh danh là “Người đọc mỉm cười trước cái chết”. Để phòng xa, hơn là để tạ ơn tác giả, mỗi hè tôi lại đọc Auster, mặc dù giờ tôi đang đi tàu lửa và ngồi ở một sân ga nhạt nắng Normandie chứ không phải đang trên tàu thuỷ xuôi giòng Dniepr đến Kremenchuk.
Và khi một cái bóng thoáng qua trên trang sách, thì ngước đầu lên tôi không thấy một gầm cầu mà thấy Maria.
Maria, nếu đi qua, thì ở đâu cũng thấy, không cần phải là sân ga Lisieux sáng trưa hay chiều nắng lốm đốm, ấn tượng như thánh đường Rouen của Monet. 60kg và 1m88 theo tờ khai lí lịch đăng kí tìm chồng, Maria không cao như cầu mà như cao như “người chăn cầu” của Apollinaire (Cô bé chăn ơi Tháp Eiffel đàn cầu của em bê bê vào buổi sáng) mà nếu là nhà thơ Việt Nam thì ví von Trên cao gió hát mây như tóc / Chàm đứng như em một dáng gầy. Nàng mặc quần đen bằng vải mỏng thướt tha, dĩ nhiên là đi giày đế thấp, áo tuyn trắng phập phòng hở nách lòi giây đeo nịt vú lấm tấm hồng (dấu chấm phẩy vẫn là cần thiết, đây cũng chẳng phải là “lòi giây đeo nịt, vú lấm tấm hồng”, vú lấm tấm gì thì sao tôi tỏ). Maria lướt qua như một cột đèn di động nhưng lạ nhất là đeo một cái tủi vai loại đựng máy vi tính như là đi công tác, và đầu đội một cái nón két màu xanh mang phù hiệu của Công ty Đường Sắt Quốc Gia (SNCF). Maria của tôi ở Lisieux mới vừa tốt nghiệp trường nhân viên soát vé, tu húyt cầm tay cùng với chìa khoá còn có vẻ vụng về.
Thì nhất định, đây không phải là Maria ở Kremenchuk, cách hai ba nghìn cây số về hướng Đông. Tôi không rõ rợ Viking mươi mười ba thế kỉ trước chia tay nhau như thế nào ở Na Uy hay bán đảo Đan Mạch, người đi Biển Bắc, người miền Baltic mà giờ cô soát vé ở Normandie lại như là sinh đôi với cô người mẫu Ukraine. Thật ra, ngay cả khi cởi nón két ra kẹp vào nách nhổ long nhẵn nhụi (thì áo hở nách như đã nói, nào có chi tiết nào thừa), cô Maria này còn cao hơn tôi đến 20 phân chứ không phải 15. Nàng rõ ràng trên hằn 1m90, cỡ 1m92 hay là 1m95, và là người cao nhất trên sân bất kể hành khách hay là nhân viên đường sắt, cả nữ lẫn nam, đội nón hay đầu trần. Tôi bồi hồi rung động, chẳng phải vì tôi chỉ có thích phụ nữ bóng rổ, mà là vì hình ảnh từ truyện “Tàu Canh Cẩn Mật” của Bohumil Hrabal bất chợt hiện về. Đúng hơn, là hình ảnh từ bộ phim của Jiri Menzel chuyển thể, Maria này tổng thể cái ngơ- ngác-giấu-không-được-kín của nhân-vật nam-mới-nhận-việc-tập-sự-đệ-nhị-phụ-tá của ga xép với lại cái lơi-lả-ở-đâu-giấu-biệt của nhân-vật-nữ-từ-đâu-mang-bom-kháng-chiến-nằm-vùng, cả hai đều đội nón két hết, tuy tất nhiên là của Công ty Hỏa Xa Tiệp. Và tôi nói là giấu biệt, vì nếu có lơi lả thì chắc chỉ có mình tôi biết, nàng chỉ lộ ra ở cái giây nịt vú đốm hồng nhưng nét duy nhất này hoàn toàn bị trang nghiêm và uy quyền của đồng phục soát vé, tức là cái nón, đè bẹp.
Chuyến Lisieux-Trouville là tàu chợ, bóng loáng và mới toanh như là cô nhân viên. Tôi lên tàu theo mọi người và đúng theo bổn phận Maria là người lên chót, kiểm soát lại cửa, khóa lại và giọng nàng tuy trôi chảy nhưng chưa nhàm chán, xướng lên cáo thị khi tàu bắt đầu chạy. Tôi đứng yên tựa thành, những hàng chữ nhập nhoè trước mắt nhưng không hẳn là tại vì tàu đang lúc lắc. Paul Auster tôi không còn đặt tâm, mặc dù văn ông từng giúp tôi coi thường cái chết (vì tai nạn cầu táng) trên giòng Nile như đã kể. Tôi biết đây là cơ hội duy nhất, như mọi thứ cơ hội trên đời. Tôi có thể đơn giản xin số điện thoại, trao đổi e-mail để làm quen. Maria đi giày đế loại không thể thấp hơn được cho thấy nàng có chiều (cao) mặc cảm, thường những cô lồng ngồng thế này lại thêm nón két thì ai nhìn cũng nhợn, ở hộp đêm hay là dạ vũ bình dân ngoài đường chỉ lóng ngóng đứng một mình và chăm chú nhìn đầu ngón chân. Càng đẹp thì càng cô đơn (tại vì ngòai cao, Maria còn đẹp nhưng cái đẹp tôi không biết phải tả thế nào bởi không có con số chính xác), có ai dám đến làm quen là lí nhí mở cờ trong bụng. Tôi chỉ cần như Lê Đạt Ngó Lời.
Nhưng “như Lê Đạt” nào phải dễ. Trong một truyện ngắn của Tobias Wolff, một thiếu phụ Nam Mỹ đang ngồi trên xe taxi ở New York và tắc đường. Mọi xe đều không nhúc nhích, một hành khách taxi đang ngưng bên cạnh xuống khỏi xe ông, mở cửa leo vào xe bà và hỏi bà làm vợ. Bà bảo tôi đã có chồng thì ông này nói tôi cũng có đã có vợ và liền đề nghị cả hai làm nhiều thứ việc bà không tiện nhắc lại. Khi bà sắp sửa la toáng lên thì ông trở về cái taxi của ông, đường vẫn tắc và ông thì điềm nhiên giở báo ra đọc trên xe bên cạnh. Được thì được, không được thì đọc sách đọc báo tiếp, nào có chết ai. Nhưng Lisieux không phải là New York, tàu chợ không phải là taxi và tôi chỉ việc đứng yên một chỗ, Maria thế nào cũng đến tận chỗ tôi mà... hỏi vé. Tôi chuẩn bị sẵn trong đầu một câu nói có duyên, lật mấy trang “Moon Palace” đang cầm tay mà chỉ thấy có “nếu không nhờ Kitty Wu thì tôi đã chết đói”. Tôi ở Cali, mỗi năm có đi Trouville thì cũng chỉ một lần, mấy khi lại đi tàu lửa mà có thì đi tàu chạy thẳng, hoạ hoằn mới đổi sang tàu chợ Lisieux. Tốc hành ào ạt đi ngang, tôi sẽ chỉ thấy Maria nón két ở trên bến, một cột điện đường ray đi qua đời tôi ở phía bên cửa kính, như là bao nhiêu cột điện đường ray. E.L. Doctorow: “những bài hát là những cột kí lô mét của ký ức”, chuyện cửa kính thì đã có Yasunari Kawabata, tôi không dám nhìn thẳng nàng mà nhìn trong gương ẩn hiện và mập mờ của tàu điện. Nhưng bằng ấy nhà văn, chẳng giúp ích cho tôi được chút nào.
Tôi có một người bạn vào lúc còn trẻ, đẹp trai tốt tướng, và cũng như mọi chàng trai trẻ, ưa lang thang ngoài đường tìm thiếu nữ bắt chuyện làm quen. Một bận tôi đang nằm thừ ở trên giường thì hắn đến (cũng như mọi chàng trai trẻ, tôi ưa không làm gì mà chỉ nằm thừ ở trên giường) “Tao mới quen một con nhỏ bán sách ở Drugtore St Germain, tóc vàng, cao ráo, đẹp như người mẫu, nó hẹn tao tối nay đi chơi.” Thì tôi vui cho bạn, nhưng hắn nhất định dựng tôi dậy, đến tận nơi mà làm chứng. Tôi phải chìu hắn, bỏ dở cuộc chơi ưa thích (là nằm thừ ở trên giường) để xỏ quần vào mà xuống phố. Đến cửa hàng, thì cô này quả là như hắn tả nhưng tôi không thấy hai người nói chuyện hay trao đổi, cô ta việc cô, nghĩa là bán sách và hắn thì việc hắn, nghĩa là đi qua đi lại và liếc liếc. Tôi đâm nghi, bèn hỏi cho kỹ, mày có quen chưa, lát nữa có đi chơi thật không thì hắn gắt “Người ta đang làm việc! Lỡ xếp của nó biết! Nó hẹn tao rồi, mười giờ đêm tiệm sách đóng cửa mình đi chơi!”. Tôi chẳng hào hứng gì, vì việc đi chơi này là việc “cầm đèn cầy” theo thành ngữ Pháp, tức là lung linh và yên lặng mà soi sáng cho cặp tình nhân đang nắm tay và nhìn vào mắt nhau thơ mộng. Tôi lật lật vài quyển sách tranh thủ việc bổ sung kiến thức trong khi chờ đợi, còn ành chị này nháy nhó nhau thế nào để tăng phần kích thích thì tôi không biết.
Điểm mười giờ, tôi và người bạn ra vỉa hè đứng đợi. Cửa hàng sách đóng, cô hàng sách tất phải đi ra thôi và cô ta đi ra thật, cặp kè mỗi tay một anh tây (cô này hai tay còn đủ chứ không tàn tật, có nghĩa là cặp hai anh tây hai bên) và ba người tíu tít rất là vui vẻ. Cô không hề liếc về phía chúng tôi một cái, hoạ chăng là hai đứa tôi, có lúc cô quay qua anh tây này hay quay lại anh tây kia mà may mắn nằm trong hướng của cặp mắt nàng nhìn. Tôi chửi thề “Vậy mà mày cũng dựng tao dậy, bắt ra đến tận đây.” Bạn tôi chống chế “Tao có nói chuyện với nó rồi, nó hẹn tao thật! Mày không thấy hai thằng này tới bắt nó mang đi, mỗi thằng cầm một tay như là cảnh sát áp giải! Mà mắt nó thì nhìn tao nói khẽ: Đêm nay không được đâu!”
Maria thì có mở miệng chứ không phải chỉ nhìn bằng mắt. Nàng nói với tôi dịu dàng nhưng (hơi) e ấp “Chào ông” và tôi… đưa vé ra. Nàng cầm lấy, cánh tay thon lòng thòng lại lóang thóang lông làm tôi nghĩ đến một spiderwoman. Nhưng nàng không kết chung quanh tôi mạng nhện, lưới tơ gì hết, chỉ trắng với lại chỉ hồng, mà chỉ dùng kềm bắm vào vé một lỗ nhỏ tí rồi trả lại. Nàng lại cất tiếng một chút ngọt “Cảm ơn ông.” Maira mỉm cười nghiêng nón két, ánh mắt mở hay là ánh mắt hé đêm nay có hy vọng? Tôi đứng tấn để giữ thăng bằng, lảo đảo tựa người vào thành nên giờ chắc kém nàng đến 30 centimét, mắt đập ngay vào tầm ngực (bé). Một làn ngực gợn, nhô lên rồi đổ xuống dúi ngược mình lăn tăn vào những đường nhăn của cái nách để trần. Tôi không nói gì, biết nói gì đây, và Maria quay sang người hành khách bên cạnh.
*
Cái vé tàu, tôi có ý định sẽ giữ lại, với cái lỗ thủng nhỏ xíu. Tất nhiên, nếu nàng cầm vé đưa lên miệng cắn nhẹ, để lại một vết răng thì kỷ vật này sẽ thú vị hơn. Tôi sẽ buột miệng nói “nếu không nhờ Kitty Wu thì tôi đã chết đói”. Nàng tất nhiên sẽ phải hỏi “Cái gì?” và đưa đẩy sẽ đi đến tìm hiểu đậm đà thêm. Tối 13.7, hẹn nhau trước sân boules bờ biển Trouville nhìn ban nhạc thị xã xập xình, rồi vào cửa hàng khách sạn Chatham ăn kem cốc. Đêm 14.7 tức là đêm Quốc khánh, rủ nhau lên con dốc nhìn xuống Deauville xem pháo bông rồi đến Touques dự dạ vũ của lính lửa (Touques dễ tìm chỗ đậu xe hơn). Slow dìu dặt, tôi áp má vào ngang ngực nàng (bé nhưng mà) mát dưới đêm hè. Sáng 15, dắt nhau xuống con đường đất trước khi đến Villerville để ra cái bãi nằm phơi nắng cởi truồng vì tôi không có mang theo quần tắm. Đây là diệu kế, vì đi với một cô trẻ đẹp ra bãi khỏa thân, sẽ ung dung được ngắm các bà nằm cạnh mà không bị nghi ngờ là có ý gian tà.
Đây là một cuối tuần bình dân bờ biển, tôi không sang phía Deauville nhàn nhạt màu và mùi (nhiều) tiền, dạo chung quanh Villa Strassburger, rồi duỗi planches, nơi này đạo diễn Jacques Tati, nơi kia họa sĩ Van Dongen. Maria sóat vé xe lửa, nàng không sóat vé bảo tàng mỹ thuật và quên mang theo quần tắm thì tôi có thể ra ngòai bãi Chemin de Chaux rất tiện nhưng quên mang theo áo vét màu sậm thì tôi không vào được casino Lucien Barrière. Deauville và Trouville là hai thế giới hòan tòan khác biệt nhưng cách nhau chỉ một cây cầu Le Pont des Belges.
Tôi cũng có thể khóac lác, tìm cách ấn tượng nàng bằng cách bịa đặt chuyện. Tôi sẽ nói là tôi đi làm việc, cho công ty trò chơi điện tử, đang thiết kế một video game đề tài Thế chiến Thứ hai. Cây cầu này tôi sẽ chụp hình từng thước một, nhà ga một bên và tiệm bánh mì với cửa hàng bánh ngọt ở đầu kia. Tôi sẽ hứa hẹn, vẽ ra một vai nhân vật nữ, kiểm sóat vé tàu họat động cho kháng chiến nhưng cần cao trên thước chín để cầm ăng ten cho dễ bắt được điện mật của Đồng minh, giúp đại đội nhảy dù Bỉ và Lục Xâm Bảo chiếm cầu như đã từng xảy ra vào lúc giải phóng. Cạnh map Pegasus Bridge và map của Omaha Beach, sẽ có map le Pont des Belges. Tôi sẽ chụp hình Maria làm mẫu, đến khúc Đức đang pháo hay là bắn tỉa, bò qua cầu phải chổng mông lên (cúi đầu xuống, và đừng quên cây ăng ten !) Nhưng đằng nào thì đến đêm thứ bảy, tôi cũng sẽ lái xe về Paris để tránh ngày cao điểm, rồi biến mất về sau trên những nẻo đường viễn vọng tù mù.
Cho nên tôi ngậm miệng, nhìn Maria hành sự sóat vé, bàn tay đài các bao nhiêu người ở trên toa có mặt, nàng bấm đủ cho tròn từng ấy lỗ li ti.
Trouville tôi đạt không sự cố và tôi sẽ trở về Paris bằng xe con vào ngày thứ bảy như đã nói đế tránh lúc về tắc đường của đợt mọi người đi chơi biển cuối tuần. Maria này tôi không có kỳ vọng gì gặp lại. Taganrog bên bờ Azov của chàng Antoshka Chekonte tội nghiệp thì thuộc Nga và visa nhiêu khê, nhưng Ukraine thì tôi sẽ đến, nhà số 13 của đồi Andriyskiy ở Kiev, làng Alexandrowska bên giòng Kodima và Kremenchuk bên giòng Dniepr giờ lại có ông Gustave Flaubert của những cánh đồng Normandie ẩn hiện.
Lỡ Maria này, còn Maria kia.
Maria kia tôi có địa chỉ, tôi có e-mail, tôi có cả hình áo tắm (ngực cũng nhú nhô gờn gợn sóng không kém, mép nách nhẵn lông nào chẳng có những đường nhăn) và ngày mai tôi sẽ gọi điện.
ĐKh.
Chú thích của người viết : Đến đây, mới được 850 chữ, 51 hàng và năm đọan, mà tôi đã kể được bốn con sông ( Eure-Ebro-Rio Grande-Dniepr), sáu thành phố (Kremenchuk-Cairo-Kiev-Hong Kong-Bangkok-Paris) ở năm nước khác nhau. Nước thứ sáu, là nước…lèo.
Một số ý kiến đóng góp về bài viết này:
|
|