| |
Kafka bên bờ biển - Murakami Haruki:
Câu trả lời của phương Đông về “cái phi lý”
Kafka bên bờ biển, ( bản dịch của Dương Tường, lần đầu tiên công bố tại Việt nam, do công ty cổ phần văn hoá Nhã Nam và NXB Hội nhà văn ấn hành, tháng 10/ 2007) là tác phẩm tập trung những sáng tạo thiên tài của nhà văn nhằm khám phá những tồn tại sâu kín của con người, từ đó lý giải vấn đề tồn vong của xã hội loài người với một minh triết phương Đông sâu sắc và khoát đạt lạ thường. Kafka bên bờ biển cũng là tác phẩm độc đáo nhất của Murakami, kết hợp lối viết ẩn dụ biểu tượng trong một dòng chảy nội giới huyền ảo quen thuộc vốn là sở trường của ông.
Kể từ Biên niên ký chim vặn dây cót, Murakami đã bộc lộ rõ khuynh hướng đi sâu khám phá những ẩn ức về cái ác và sự huỷ diệt hàng loạt trong đời sống của con người, thông qua những miêu tả mang tính hiện thực và những miêu tả huyền ảo nằm trong tiềm thức của các nhân vật, nhiều thế hệ, về bóng ma thế chiến 2, mà những con người Nhật Bản là người trong cuộc. Ông đã miêu tả cái ác vừa như một sự phi lý khách thể, vừa mang những mối dây ràng buộc sâu kín với bản thể con người. Yêu thích Franzk Kafka, Murakami nhanh chóng tiếp cận cảm quan phi lý về hiện thực của nhà văn vĩ đại, chứng nghiệm về một thế giới “vỡ nát” kể từ kết thúc thế chiến 2, đẩy con người ra khỏi nơi ẩn náu truyền thống, đến với những cảm nhận huyền hoặc bi thảm. Trong khi các nhà văn phương Tây dừng lại ở nỗi hoang mang về một thế giới bên ngoài thay hình đổi dạng, không còn lý giải được, bị tước mất hết ý nghĩa của tồn tại thông thường, và con người, do đó tha hoá, thậm chí có nguy cơ bị triệt tiêu, thì Murakami, xuất phát từ truyền thống siêu hình phương Đông, muốn đưa ra một sự lý giải khác từ thế giới bên trong của con người để đi đến cái nhìn tường minh về ngoại giới.
Cậu bé Tamura 15 tuổi, con trai nhà điêu khắc trứ danh Koichi Tamura quyết chí bỏ nhà ra đi để trốn tránh lời nguyền của cha cậu, từ thuở nhỏ, rằng cậu sẽ phải giết cha và cưỡng hiếp mẹ mình. Dễ dàng dùng lại một motiv kịch Hy lạp cổ, định mệnh Eudip, Murakami thừa nhận sự mặc định sẵn về huỷ diệt và “loạn luân” như một thực tại hiển nhiên. - “Cái phi lý” ở mức độ thể hiện cao nhất, lại xuất phát từ chính thuộc tính, cái phần sâu kín bên trong của con người. Cậu bé lấy tên là Kafka, tìm tới thành phố biển Nagakawa xa xôi, cậu không phải chỉ từ chối ứng nghiệm lời nguyền bi thảm, mà điều cốt yếu của cậu là kiếm tìm một cuộc sống tự nhiên khác, kiếm tìm bản ngã và tự do. Và bản thể của cậu được chiếu rọi bằng cách phóng chiếu lên những mối quan hệ với người khác, Kafka có thể là một người yêu làm tất cả để bảo toàn hình bóng của người thiếu nữ mà cậu yêu, và cũng có thể, khi phải xung đột, bất đồ thiếu tự chủ, đả thương người khác, dù không gây hậu quả nặng nề.
Ông lão Nakata, sống một cuộc đời như nhiên nhất giữa Tokyo, biết trò chuyện với mèo, với đá, tiên tri được những điều kỳ lạ, hay những biến chuyển tất yếu của thực tại dưới dạng cái ngẫu nhiên; vốn là một cậu bé, trong Thế chiến 2, đã bị mất hết khả năng tư duy trừu tượng sau cú hôn mê kéo dài, từ vụ bạo hành bộc phát của một cô giáo, vốn dĩ nhân từ. Ý nghĩa biểu tượng của hình tượng Kafka, cho định mệnh tất yếu của con người, và Nakata, nạn nhân cũng của chính con người, được tô đậm trong một trường thực tại đầy ắp ám ảnh về bạo lực và tính dục.
Nakata, trong một giấc mơ, đã đâm chết bằng dao làm bếp, nhà điêu khắc Kioichi, mà ông lão nhìn thấy trong nhân dạng của kẻ tàn sát mèo ghê rợn, đang yêu cầu ông giết chính hắn, để cứu được hai mèo con. Kafka, cũng bằng con đường giấc mơ, đã tới đó chứng kiến sự việc, và hiện về ở Nagakawa với chiếc áo pull vấy máu, mà không ý thức điều này. Nakata, theo lời mách bảo tự nhiên, cũng tìm ra với biển, tới thành phố Nagakawa, mà không hề biết mối liên hệ giữa mình và Kafka.
Miss Saeki ở Thư viện tưởng niệm Komura bên bờ biển, người đàn bà đẹp, biểu tượng cho tính nữ, sự thuần khiết, sự tồn tại của quá khứ vượt qua hạn định thời gian, đã khiến Kafka si mê hình bóng của nàng ở tuổi 15, như một kiểu bóng hồn, và đã chiếm đoạt, chung đụng khi bà ở tuổi ngũ tuần, sau bao chung đụng khác của bà. Miss Saeki hoàn toàn có thể chính là người mẹ lưu lạc của Kafka, theo những giả thuyết và giấc mơ của cậu.
Sự không xác định rõ ràng người thực hiện và đối tượng của những hành vi quan trọng này, cùng tính chất giấc mơ, phiếm định về không gian, nhằm đến một sự khái quát về thuộc tính chung, cái tất yếu thuộc về định mệnh của con người.
Hành vi “giết cha lấy mẹ” của Kafka, ( với Nakata “giúp sức”) được nhìn nhận trong tính biểu tượng và nước đôi, nhưng quan trọng hơn, được phát lộ không vì căn nguyên nào khác, ngoài bản năng yêu thương và được yêu thương để tự bảo toàn và tồn tại. Bản năng này mạnh mẽ đến nỗi bất chấp cả những hạn định lý trí và huyết thống( khác với Eudip, vô tình lấy phải mẹ mình). Rọi sáng cái bản thể phi lý của con người, Murakami cũng đồng thời khẳng định tình yêu- những bản năng sống tồn như mặt còn lại không thể tách rời của bản thể ấy.
Xuất phát từ quan niệm triết học cổ phương Đông, thế giới tồn tại dựa trên quá trình úa tàn, hư hoại, cái chết, Murakami đã chỉ ra sự gắn bó khăng khít của sự huỷ diệt như một phần của sự sống. Đó là khi con người muốn giữ gìn được tình yêu, khát vọng tồn tại, như một ý chí sống toàn vẹn và tuyệt đối, không để cho nó bị huỷ hoại theo thời gian như quy luật tất yếu, thì chỉ có cách là tự nguyện, đường hoàng chấp nhận cái chết, chung cục đến sớm. Chết để trung thành với sự sống trong dạng viên mãn và đỉnh cao của nó, dùng cái chết siêu hình để vượt qua cái chết bị động, không có gì trái với tự nhiên. Miss Saeki, người phụ nữ kỳ lạ đã sống viên mãn trong tình yêu hồi cả đôi uyên ương đều 15 tuổi, khi mất đi người yêu ở tuổi 20, cuộc sống của bà chỉ còn đích thực là sự đang chết, và vài chục năm sau, tìm thấy người yêu 15 tuổi khi xưa hiện hữu trong cậu bé Kafka… khi đã cận kề với cái chết tự nguyện ở tuổi ngoại 50, đồng thời bà dường như không hề quan tâm tới cái giả thuyết về huyết thống của cậu. Hình tượng Saeki trở thành biểu tượng của bản năng tính dục, tình yêu và sống tồn, tính Mẹ, trong dạng thức trọn vẹn và đỉnh cao, thách thức và vượt qua cái chết.
Giữa cái tính năng huỷ diệt thuộc về tự nhiên và cái bản thế sống tồn, mà nhiều khi có thể tự huỷ để vượt lên khỏi cái chết, có thể dung nạp trong nội hàm sự phi lý, Murakami đã tìm ra lời giải đáp cho con người, hướng về sự sống. Sự sống thuộc về tự nhiên và nó bao hàm cả những gì mà người ta tưởng là đã chết hoặc không hề tồn tại.
Cậu bé Kafka cuối truyện đã vùng chạy vào rừng, bất chấp nguy cơ vĩnh viễn bị lạc không thể quay trở lại với cái thế giới tường minh hiện hữu nắm bắt được bằng lý trí này, để tìm câu trả lời cuối cùng về thực tại cũng như định mệnh của mình. Rừng, như mối nối vào cái sâu thẳm của tự nhiên, của chính những điều chưa biết trong tâm trí chúng ta, của hư vô và bất tận. Không phải ngẫu nhiên mà lời nhắn gửi cuối cùng dành cho Kafka lại là sống, như là nhìn ra biển. Cái phi lý trong tồn tại của con người sẽ tìm được lời giải đáp trước đại dương mênh mông, trước cái vô cùng vô tận của tự nhiên. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Kafka mới chỉ tròn 15 tuổi, chưa tới vị thành niên. Cũng như cậu, con người, phải tìm ra một lối đi cho mình, trước khi có thể thực sự trở thành con người trưởng thành…
(Khánh Phương viết xong, mail lúc 17 giờ 25’ - 19/10/2007) |
|